Đồ án Tìm hiểu Firewall
Đồ án:
Tìm hiểu Firewall
LỜI MỞ ĐẦU
Trong thực tế hiện nay bảo mật thông tin đang đóng một vai trò thiết yếu chứ
không còn là “thứ yếu” trong mọi hoạt động liên quan đến việc ứng dụng công nghệ
thông tin. Tôi muốn nói đến vai trò to lớn của việc ứng dụng CNTT đã và đang diễn ra
sôi động, không chỉ thuần túy là những công cụ (Hardware, software), mà thực sự đã
được xem như là giải pháp cho nhiều vấn đề. Khởi động từ những năm đầu thập niên
90, với một số ít chuyên gia về CNTT, những hiểu biết còn hạn chế và đưa CNTT ứng
dụng trong các hoạt động sản xuất, giao dịch, quản lý còn khá khiêm tốn và chỉ dừng
lại ở mức công cụ, và đôi khi tôi còn nhận thấy những công cụ “đắt tiền” này còn gây
một số cản trở, không đem lại những hiệu quả thiết thực cho những Tổ chức sử dụng
nó.
Internet cho phép chúng ta truy cập tới mọi nơi trên thế giới thông qua một số
dịch vụ. Ngồi trước máy tính của mình bạn có thể biết được thông tin trên toàn cầu,
nhưng cũng chính vì thế mà hệ thống máy tính của bạn có thể bị xâm nhập vào bất kỳ
lúc nào mà bạn không hề được biết trước. Do vậy việc bảo vệ hệ thống là một vấn đề
chúng ta đáng phải quan tâm. Người ta đã đưa ra khái niệm FireWall để giải quyết vấn
đề này.
Để làm rõ các vấn đề này thì đồ án “ Tìm hiểu Firewall ” sẽ cho chúng ta cái
nhìn sâu hơn về khái niệm, cũng như chức năng của Firewall.
Trong quá trình làm đồ án tuy đã cố gắng hết sức nhưng không thể tránh khỏi
được những thiếu sót. Rất mong nhận được ý kiến giúp đỡ của thầy cô để Tôi sẽ làm
tốt hơn trong các đề tài lần sau.
Cuối cùng Tôi xin chân thành cảm ơn thầy LÊ VĂN LONG và các thầy cô
khoa CNTT đã hướng dẫn Tôi hoàn thành đồ án của mình.
I. Mục tiêu
Đồ án này sẽ giúp cho chúng ta biết được các quá trình cần thiết để thiết kế nên
1 hệ thống mạng. Giúp ta biết sâu hơn về khái niệm cũng như chức năng Firewall.
II. Phương pháp nghiên cứu
Đọc kỹ và nắm bắt được các yêu cầu của đồ án đề ra.
Đi sâu trong việc tìm kiếm tài liệu và trình bày một cách hợp lý nhất.
Chăm chú lắng nghe và tiếp thu những ý kiến đóng góp của giáo viên
hướng dẫn.
III. Bố cục
* Nội dung của đồ án này được chia làm 3 chương như sau:
Chương 1: Ta tìm hiểu về tổng quan Firewall.
Chương 2: Ta sẽ đề xuất một giải pháp Firewall cho một doanh nghiệp
nhỏ.
Chương 3: Ta sẽ đi cài đặt một giải pháp Firewall cho doanh nghiệp
nhỏ.
DANH MỤC HÌNH VẼ
SỐ HIỆU
MÔ TẢ
TRANG
Hình 1.1 Firewall được đặt ở giữa mạng riêng và mạng công cộng
Hình 1.2 Mạng gồm có Firewall và các máy chủ
Hình 1.3 Sử dụng nhiều Firewall nhằm tăng khả năng bảo mật
Hình 1.4 Kiến trúc của hệ thống sử dụng Firewall
Hình 1.5 Cấu trúc chung của một hệ thống Firewall
Hình 1.6 Kiến trúc Dual - Homed host
8
9
10
14
15
16
18
19
20
21
22
27
Hình 1.7 Kiến trúc Screened host
Hình 1.8 Kiến trúc Screened Subnet
Hình 1.9 Packet filtering firewall
Hình 1.10 Circuit level gateway
Hình 1.11 Application-proxy firewall
Hình 2.1 Các mức an toàn thông tin trên mạng
Mô hình triển khai ISA Server giữa Internal Network và
Hình 2.2
Internet
32
Hình 3.1 Sơ đồ ban đầu của toà nhà
Hình 3.2 Mô hình logic
38
38
39
39
40
41
Hình 3.3 Các hình chú thích về thiết kế
Hình 3.4 Mô hình vật lý ở Tầng 1
Hình 3.5 Mô hình vật lý ở Tầng 2
Hình 3.6 Mô hình vật lý ở Tầng 3
TỪ VIẾT TẮT
SỐ HIỆU
CỤM TỪ
VIẾT TẮT
NIC
1
2
Network Interface Controller
Internet Protocol
IP
3
Local Area Network
LAN
DMZ
FTP
4
Demilitarized Zone
5
File Transfer Protocol
6
Simple Mail Transfer Protocol
Open Systems Interconnection
Hypertext Transfer Protocol
Transmission Control Protocol
Asymmetric Digital Subscriber Line
Personal Computer
SMTP
OSI
7
8
HTTP
TCP
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
ADSL
PC
Domain Name System
DNS
RAM
ISA
Random Access Memory
Internet Security and Acceleration
Virtual Private Network
Network Address Translation
Wide Area Network
VPN
NAT
WAN
OS
Operating System
Post Office Protocol
POP
Internet Message Access Protocol
IMAP
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ FIREWALL
1.1. KHÁI NIỆM VỀ FIREWALL
1.1.1. Tại sao phải sử dụng một Firewall cho mạng máy tính kết nối Internet?
Internet ra đời đã đem lại nhiều lợi ích rất lớn cho con người, nó là một trong
những nhân tố hàng đầu góp phần vào sự phát triển nhanh chóng của cả thế giới và có
thể nói Internet đã kết nối mọi người tới gần nhau hơn. Chính vì một khả năng kết nối
rộng rãi như vậy mà các nguy cơ mất an toàn của mạng máy tính rất lớn.
Đó là các nguy cơ bị tấn công của các mạng máy tính, tấn công để lấy dữ liệu,
tấn công nhằm mục đích phá hoại làm tê liệt cả một hệ thống máy tính lớn, tấn công
thay đổi cơ sở dữ liệu …Trước những nguy cơ đó, vấn đề đảm bảo an toàn cho mạng
máy tính trở nên rất cấp thiết và quan trọng hơn bao giờ hết. Các nguy cơ bị tấn công
ngày càng nhiều và ngày càng tinh vi hơn, nguy hiểm hơn.
Đã có nhiều giải pháp bảo mật cho mạng máy tính được đưa ra như dùng các
phần mềm, chương trình để bảo vệ tài nguyên, tạo những tài khoản truy xuất mạng đòi
hỏi có mật khẩu … nhưng những giải pháp đó chỉ bảo vệ một phần mạng máy tính mà
thôi, một khi những kẻ phá hoại mạng máy tính đã thâm nhập sâu hơn vào bên trong
mạng thì có rất nhiều cách để phá hoại hệ thống mạng. Vì vậy đã đặt ra một yêu cầu là
phải có những công cụ để chống sự xâm nhập mạng bất hợp pháp ngay từ bên ngoài
mạng, đó chính là nguyên nhân dẫn tới sự ra đời của Firewall (Tường lửa).
Một Firewall có thể lọc các lưu lượng Internet nguy hiểm như hacker, các loại
sâu, và một số loại virus trước khi chúng có thể gây ra trục trặc trên hệ thống. Ngoài
ra, Firewall có thể giúp cho máy tính tránh tham gia các cuộc tấn công vào các máy
tính khác mà không hay biết. Việc sử dụng một Firewall là cực kỳ quan trọng đối với
các máy tính luôn kết nối Internet, như trường hợp có một kết nối băng thông rộng
hoặc kết nối DSL/ADSL.
Trên Internet, các tin tặc sử dụng mã hiểm độc, như là các virus, sâu và Trojan,
để tìm cách phát hiện những cửa không khóa của một máy tính không được bảo vệ.
Một tường lửa có thể giúp bảo vệ máy tính khỏi bị những hoạt động này và các cuộc
tấn công bảo mật khác.
Vậy một tin tặc có thể làm gì? Tùy thuộc vào bản chất của việc tấn công. Trong
khi một số chỉ đơn giản là sự quấy rầy với những trò đùa nghịch đơn giản, một số khác
được tạo ra với những ý định nguy hiểm. Những loại nghiêm trọng hơn này tìm cách
xóa thông tin từ máy tính, phá hủy nó, hoặc thậm chí ăn căp thông tin cá nhân, như là
các mật khẩu hoặc số thẻ tín dụng. Một số tin tặc chỉ thích đột nhập vào các máy tính
dễ bị tấn công. Các virus, sâu và Trojan rất đáng sợ. May mắn là có thể giảm nguy cơ
lây nhiễm bằng cách sử dụng một Firewall.
1.1.2. Sự ra đời của Firewall
Thuật ngữ Firewall có nguồn gốc từ một kỹ thuật thiết kế trong xây dựng để
ngăn chặn, hạn chế hỏa hoạn.
Trong công nghệ mạng thông tin, Firewall là một kỹ thuật được tích hợp vào hệ
thống mạng để chống sự truy cập trái phép, nhằm bảo vệ các nguồn thông tin nội bộ và
hạn chế sự xâm nhập không mong muốn vào hệ thống. Cũng có thể hiểu Firewall là
một cơ chế (Mechanism) để bảo vệ mạng tin tưởng (Trusted network) khỏi các mạng
không tin tưởng (Untrusted network).
Thông thường Firewall được đặt giữa mạng bên trong (Intranet) của một công
ty, tổ chức, ngành hay một quốc gia, và Internet. Vai trò chính là bảo mật thông tin,
ngăn chặn sự truy nhập không mong muốn từ bên ngoài (Internet) và cấm truy nhập từ
bên trong (Intranet) tới một số địa chỉ nhất định trên Internet.
Internet FireWall là một tập hợp thiết bị (bao gồm phần cứng và phần mềm)
giữa mạng của một tổ chức, một công ty, hay một quốc gia (Intranet) và Internet:
(INTRANET - FIREWALL - INTERNET)
Trong một số trường hợp, Firewall có thể được thiết lập ở trong cùng một mạng
nội bộ và cô lập các miền an toàn. Ví dụ như một mạng cục bộ sử dụng Firewall để
ngăn cách phòng máy và hệ thống mạng ở tầng dưới.
Một Firewall Internet có thể giúp ngăn chặn người ngoài trên Internet không
xâm nhập được vào máy tính.
Một Firewall làm việc bằng cách kiểm tra thông tin đến và ra Internet. Nó nhận
dạng và bỏ qua các thông tin đến từ một nơi nguy hiểm hoặc có vẻ nghi ngờ. Nếu bạn
cài đặt Firewall của bạn một cách thích hợp, các tin tặc tìm kiếm các máy tính dễ bị
tấn công không thể phát hiện ra máy tính.
Firewall là một giải pháp dựa trên phần cứng hoặc phần mềm dùng để kiểm tra
các dữ liệu. Một lời khuyên là nên sử dụng firewall cho bất kỳ máy tính hay mạng nào
có kết nối tới Internet. Đối với kết nối Internet băng thông rộng thì Firewall càng quan
trọng, bởi vì đây là loại kết nối thường xuyên bật (always on) nên những tin tặc sẽ có
nhiều thời gian hơn khi muốn tìm cách đột nhập vào máy tính. Kết nối băng thông
rộng cũng thuận lợi hơn cho tin tặc khi được sử dụng để làm phương tiện tiếp tục tấn
công các máy tính khác.
1.1.3. Mục đích của Firewall
Với Firewall, người sử dụng có thể yên tâm đang được thực thi quyền giám sát
các dữ liệu truyền thông giữa máy tính của họ với các máy tính hay hệ thống khác. Có
thể xem Firewall là một người bảo vệ có nhiệm vụ kiểm tra "giấy thông hành" của bất
cứ gói dữ liệu nào đi vào máy tính hay đi ra khỏi máy tính của người sử dụng, chỉ cho
phép những gói dữ liệu hợp lệ đi qua và loại bỏ tất cả các gói dữ liệu không hợp lệ.
Các giải pháp Firewall là thực sự cần thiết, xuất phát từ chính cách thức các dữ
liệu di chuyển trên Internet. Giả sử gửi cho người thân của mình một bức thư thì để
bức thư đó được chuyển qua mạng Internet, trước hết phải được phân chia thành từng
gói nhỏ. Các gói dữ liệu này sẽ tìm các con đường tối ưu nhất để tới địa chỉ người
nhận thư và sau đó lắp ráp lại (theo thứ tự đã được đánh số trước đó) và khôi phục
nguyên dạng như ban đầu. Việc phân chia thành gói làm đơn giản hoá việc chuyển dữ
liệu trên Internet nhưng có thể dẫn tới một số vấn đề. Nếu một người nào đó với dụng
ý không tốt gửi tới một số gói dữ liệu, nhưng lại cài bẫy làm cho máy tính của không
biết cần phải xử lý các gói dữ liệu này như thế nào hoặc làm cho các gói dữ liệu lắp
ghép theo thứ tự sai, thì có thể nắm quyền kiểm soát từ xa đối với máy tính của và gây
nên những vấn đề nghiêm trọng. Kẻ nắm quyền kiểm soát trái phép sau đó có thể sử
dụng kết nối Internet của để phát động các cuộc tấn công khác mà không bị lộ tung
tích của mình.
Firewall sẽ đảm bảo tất cả các dữ liệu đi vào là hợp lệ, ngăn ngừa những người
sử dụng bên ngoài đoạt quyền kiểm soát đối với máy tính của bạn. Chức năng kiểm
soát các dữ liệu đi ra của Firewall cũng rất quan trọng vì sẽ ngăn ngừa những kẻ xâm
nhập trái phép "cấy" những virus có hại vào máy tính của để phát động các cuộc tấn
công cửa sau tới những máy tính khác trên mạng Internet.
Hình 1.1. Firewall được đặt ở giữa mạng riêng và mạng công cộng
Một Firewall gồm có ít nhất hai giao diện mạng: Chung và riêng, giao diện
chung kết nối với Internet, là phía mà mọi người có thể truy cập, giao diện riêng là
phía mà chứa các dữ liệu được bảo vệ. Trên một Firewall có thể có nhiều giao diện
riêng tuỳ thuộc vào số đoạn mạng cần được tách rời. Ứng với mỗi giao diện có một bộ
quy tắc bảo vệ riêng để xác định kiểu lưu thông có thể qua từ những mạng chung và
mạng riêng.
Firewall cũng có thể làm được nhiều việc hơn và cũng có nhiều thuận lợi và
khó khăn. Thông thường nhà quản trị mạng sử dụng Firewall như một thiết bị đầu nối
VPN, máy chủ xác thực hoặc máy chủ DNS. Tuy nhiên như bất kì một thiết bị mạng
khác, nhiều dịch vụ hoạt động trên cùng một máy chủ thì các rủi ro càng nhiều .Do đó,
một Firewall không nên chạy nhiều dịch vụ.
Firewall là lớp bảo vệ thứ hai trong hệ thống mạng, lớp thứ nhất là bộ định
tuyến ở mức định tuyến sẽ cho phép hoặc bị từ chối các địa chỉ IP nào đó và phát hiện
những gói tin bất bình thường. Firewall xem những cổng nào là được phép hay từ chối.
Firewall đôi lúc cũng hữu ích cho những đoạn mạng nhỏ hoặc địa chỉ IP riêng lẻ. Bởi
vì bộ định tuyến thường làm việc quá tải, nên việc sử dụng bộ định tuyến để lọc ra bộ
định tuyến IP đơn, hoặc một lớp địa chỉ nhỏ có thể tạo ra một tải trọng không cần thiết.
Firewall có ích cho việc bảo vể những mạng từ những lưu lượng không mong
muốn. Nếu một mạng không có các máy chủ công cộng thì Firewall là công cụ rất tốt
để từ chối những lưu lượng đi vào, những lưu lượng mà không bắt đầu từ một máy ở
sau Firewall, Một Firewall cũng có thể được cấu hình để từ chối tất cả các lưu lượng
ngoại trừ cổng 53 đã dành riêng cho máy chủ DNS.
Hình 1.2. Mạng gồm có Firewall và các máy chủ
Sức mạnh của Firewall nằm trong khả năng lọc lưu lượng dựa trên một tập hợp
các quy tắc bảo vệ, còn gọi là quy tắc bảo vệ do các nhà quản trị đưa vào. Đây cũng có
thể là nhược điểm lớn nhất của Firewall, bộ quy tắc xấu hoặc không đầy đủ có thể mở
lối cho kẻ tấn công, và mạng có thể không được an toàn.
Nhiều nhà quản trị mạng không nghĩ rằng Firewall hoạt động như một thiết bị
mạng phức tạp. Người ta quan tâm nhiều đến việc giữ lại những lưu lượng không
mong muốn đến mạng riêng, ít quan tâm đến việc giữ lại những lưu lượng không
mong muốn đến mạng công cộng. Nên quan tâm đến cả hai kiểu của tập các quy luật
bảo vệ. Nếu một kẻ tấn công muốn tìm cách xâm nhập vào một máy chủ, chúng không
thể sử dụng máy chủ đó để tấn công vào các thiết bị mạng ở xa.
Để bảo vệ và giúp cho các lưu lượng bên trong đoạn mạng các nhà quản lý
thường chạy hai bộ Firewall, bộ thứ nhất để bảo vệ toàn bộ mạng, và bộ còn lại để bảo
vể các đoạn mạng khác.
Nhiều lớp Firewall cũng cho phép các nhà quản trị an toàn mạng kiểm soát tốt
hơn những dòng thông tin, đặc biệt là các cơ sở bên trong và bên ngoài công ty phải xử
lý các thông tin nhảy cảm. Các hoạt động trao đổi thông tin có thể cho phép trên phần
nào đó của mạng thì có thể bị giới hạn trên những vùng nhạy cảm hơn.
Hình 1.3. Sử dụng nhiều Firewall nhằm tăng khả năng bảo mật
1.1.4. Các lựa chọn Firewall
Có một số công ty sản xuất sản phẩm Firewall và có hai loại để chọn: Firewall
phần cứng và Firewall phần mềm.
1.1.4.1. Firewall phần cứng
Về tổng thể, Firewall phần cứng cung cấp mức độ bảo vệ cao hơn so với
Firewall phần mềm và dễ bảo trì hơn. Firewall phần cứng cũng có một ưu điểm khác là
không chiếm dụng tài nguyên hệ thống trên máy tính như Firewall phần mềm.
Firewall phần cứng là một lựa chọn rất tốt đối với các doanh nghiệp nhỏ, đặc
biệt cho những công ty có chia sẻ kết nối Internet. Có thể kết hợp Firewall và một bộ
định tuyến trên cùng một hệ thống phần cứng và sử dụng hệ thống này để bảo vệ cho
toàn bộ mạng. Firewall phần cứng có thể là một lựa chọn đỡ tốn chi phí hơn so với
Firewall phần mềm thường phải cài trên mọi máy tính cá nhân trong mạng.
Trong số các công ty cung cấp Firewall phần cứng có thể kể tới Linksys
phần cứng do các công ty này cung cấp thường được tích hợp sẵn trong các bộ định
tuyến dùng cho mạng của các doanh nghiệp nhỏ và mạng gia đình.
1.1.4.2. Firewall phần mềm
Nếu không muốn tốn tiền mua Firewall phần cứng thì bạn có thể sử dụng
Firewall phần mềm. Về giá cả, Firewall phần mềm thường không đắt bằng firewall
phần cứng, thậm chí một số còn miễn phí (phần mềm Comodo Firewall Pro 3.0, PC
Tools Firewall Plus 3.0, ZoneAlarm Firewall 7.1 …) và bạn có thể tải về từ mạng
Internet.
So với Firewall phần cứng, Firewall phần mềm cho phép linh động hơn, nhất là
khi cần đặt lại các thiết lập cho phù hợp hơn với nhu cầu riêng của từng công ty.
Chúng có thể hoạt động tốt trên nhiều hệ thống khác nhau, khác với Firewall phần
cứng tích hợp với bộ định tuyến chỉ làm việc tốt trong mạng có qui mô nhỏ. Firewall
phần mềm cũng là một lựa chọn phù hợp đối với máy tính xách tay vì máy tính sẽ vẫn
được bảo vệ cho dù mang máy tính đi bất kỳ nơi nào.
Các Firewall phần mềm làm việc tốt với Windows 98, Windows ME và
Windows 2000. Chúng là một lựa chọn tốt cho các máy tính đơn lẻ. Các công ty phần
mềm khác làm các tường lửa này. Chúng không cần thiết cho Windows XP bởi vì XP
đã có một tường lửa cài sẵn.
* Ưu điểm:
- Không yêu cầu phần cứng bổ sung.
- Không yêu cầu chạy thêm dây máy tính.
- Một lựa chọn tốt cho các máy tính đơn lẻ.
* Nhược điểm:
- Chi phí thêm: hầu hết các tường lửa phần mềm tốn chi phí.
- Việc cài đặt và và đặt cấu hình có thể cần để bắt đầu.
- Cần một bản sao riêng cho mỗi máy tính.
1.2. CHỨC NĂNG CỦA FIREWALL
FireWall quyết định những dịch vụ nào từ bên trong được phép truy cập từ bên
ngoài, những người nào từ bên ngoài được phép truy cập đến các dịch vụ bên trong, và
cả những dịch vụ nào bên ngoài được phép truy cập bởi những người bên trong.
1.2.1. Firewall bảo vệ những vấn đề gì?
Bảo vệ dữ liệu: Theo dõi luồng dữ liệu mạng giữa Internet và Intranet. Những
thông tin cần được bảo vệ do những yêu cầu sau:
- Bảo mật: Một số chức năng của Firewall là có thể cất giấu thông tin mạng
tin cậy và nội bộ so với mạng không đáng tin cậy và các mạng bên ngoài
khác. Firewall cũng cung cấp một mũi nhọn trung tâm để đảm bảo sự quản
lý, rất có lợi khi nguồn nhân lực và tài chính của một tổ chức có giới hạn.
- Tính toàn vẹn.
- Tính kịp thời.
Tài nguyên hệ thống.
Danh tiếng của công ty sở hữu các thông tin cần bảo vệ.
1.2.2. Firewall bảo vệ chống lại những vấn đề gì?
FireWall bảo vệ chống lại những sự tấn công từ bên ngoài.
1.2.2.1. Chống lại việc Hacking
Hacker là những người hiểu biết và sự dụng máy tính rất thành thạo và là những
người lập trình rất giỏi. Khi phân tích và khám phá ra các lổ hổng hệ thống nào đó, sẽ
tìm ra những cách thích hợp để truy cập và tấn công hệ thống. Có thể sử dụng các kỹ
năng khác nhau để tấn công vào hệ thống máy tính. Ví dụ có thể truy cập vào hệ thống
mà không được phép truy cập và tạo thông tin giả, lấy cắp thông tin. Nhiều công ty
đang lo ngại về dữ liệu bảo mật bị đánh cắp bởi các hacker. Vì vậy, để tìm ra các
phương pháp để bảo vệ dữ liệu thì Firewall có thể làm được điều này.
1.2.2.2. Chống lại việc sửa đổi mã
Khả năng này xảy ra khi một kẻ tấn công sửa đổi, xóa hoặc thay thế tính xác
thực của các đoạn mã bằng cách sử dụng virus, worm và những chương trình có chủ
tâm. Khi tải file trên internet có thể dẫn tới download các đọan mã có dã tâm, thiếu
kiến thức về bảo mật máy tính, những file download có thể thực thi những quyền theo
mục đích của những người dùng trên một số trang website.
1.2.2.3. Từ chối các dịch vụ đính kèm
Từ chối dịch vụ là một loại ngắt hoạt động của sự tấn công. Lời đe dọa tới tính
liên tục của hệ thống mạng là kết quả từ nhiều phương thức tấn công giống như làm
tràn ngập thông tin hay là sự sửa đổi đường đi không được phép. Bởi thuật ngữ làm
tràn ngập thông tin, là một người xâm nhập tạo ra môt số thông tin không xác thực để
gia tăng lưu lượng trên mạng và làm giảm các dịch vụ tới người dùng thực sự. Hoặc
một kẻ tấn công có thể ngắm ngầm phá hoại hệ thống máy tính và thêm vào phần mềm
có dã tâm, mà phần mềm này sẽ tấn công hệ thống theo thời gian xác đinh trước.
1.2.2.4. Tấn công trực tiếp
Cách thứ nhất: là dùng phương pháp dò mật khẩu trực tiếp. Thông qua các
chương trình dò tìm mật khẩu với một số thông tin về người sử dụng như ngày sinh,
tuổi, địa chỉ … và kết hợp với thư viện do người dùng tạo ra, kẻ tấn công có thể dò
được mật khẩu. Trong một số trường hợp khả năng thành công có thể lên tới 30%. Ví
dụ như chương trình dò tìm mật khẩu chạy trên hệ điều hành Unix có tên là Crack.
Cách thứ hai: là sử dụng lỗi của các chương trình ứng dụng và bản thân hệ điều
hành đã được sử dụng từ những vụ tấn công đầu tiên và vẫn được để chiếm quyền truy
cập (có được quyền của người quản trị hệ thống).
1.2.2.5. Nghe trộm
Có thể biết được tên, mật khẩu, các thông tin truyền qua mạng thông qua các
chương trình cho phép đưa giao tiếp mạng (NIC) vào chế độ nhận toàn bộ các thông
tin lưu truyền qua mạng.
1.2.2.6. Vô hiệu hoá các chức năng của hệ thống (Deny service)
Đây là kiểu tấn công nhằm làm tê liệt toàn bộ hệ thống không cho thực hiện các
chức năng được thiết kế. Kiểu tấn công này không thể ngăn chặn được do những
phương tiện tổ chức tấn công cũng chính là các phương tiện để làm việc và truy nhập
thông tin trên mạng.
1.2.2.7. Lỗi người quản trị hệ thống
Ngày nay, trình độ của các hacker ngày càng giỏi hơn, trong khi đó các hệ
thống mạng vẫn còn chậm chạp trong việc xử lý các lỗ hổng của mình. Điều này đòi
hỏi người quản trị mạng phải có kiến thức tốt về bảo mật mạng để có thể giữ vững an
toàn cho thông tin của hệ thống. Đối với người dùng cá nhân, không thể biết hết các
thủ thuật để tự xây dựng cho mình một Firewall, nhưng cũng nên hiểu rõ tầm quan
trọng của bảo mật thông tin cho mỗi cá nhân. Qua đó, tự tìm hiểu để biết một số cách
phòng tránh những sự tấn công đơn giản của các hacker. Vấn đề là ý thức, khi đã có ý
thức để phòng tránh thì khả năng an toàn sẽ cao hơn.
1.2.2.8. Yếu tố con người
Với những tính cách chủ quan và không hiểu rõ tầm quan trọng của việc bảo
mật hệ thống nên dễ dàng để lộ các thông tin quan trọng cho hacker.
* Ngoài ra thì còn dùng Firewall để chống lại sự “ giả mạo địa chỉ IP “.
1.3. MÔ HÌNH VÀ KIẾN TRÚC CỦA FIREWALL
Kiến trúc của hệ thống sử dụng Firewall như sau:
FIREWALL
The
Internet
Internet
router
Server
Server
Router
Computer Computer
Computer
Server
Computer
Computer
Computer
Hình 1.4. Kiến trúc của hệ thống sử dụng Firewall
Các hệ thống Firewall đều có điểm chung ở các cấu trúc cụ thể như sau:
Hình 1.5. Cấu trúc chung của một hệ thống Firewall
Trong đó:
- Screening Router: là chặng kiểm soát đầu tiên cho LAN.
- DMZ: là vùng có nguy cơ bị tấn công từ internet.
- Gateway Host: là cổng ra vào giữa mạng LAN và DMZ, kiểm soát mọi liên
lạc, thực thi các cơ chế bảo mật.
- IF1 (Interface 1): là card giao tiếp với vùng DMZ.
- IF2 (Interface 2): là card giao tiếp với vùng mạng LAN.
- FTP Gateway: Kiểm soát truy cập FTP giữa LAN và vùng FTP từ mạng
LAN ra internet là tự do. Các truy cập FTP vào LAN đòi hỏi xác thực thông
qua Authentication server.
- Telnet gateway: Kiểm soát truy cập telnet tương tự như FTP, người dùng có
thể telnet ra ngoài tự do, các telnet từ ngoài vào yêu cầu phải xác thực thông
qua Authentication server.
- Authentication server: là nơi xác thực quyền truy cập dùng các kỹ thuật xác
thực mạnh như one-time password/token (mật khẩu sử dụng một lần).
Tất cả các Firewall đều có chung một thuộc tính là cho phép phân biệt đối xử
hay khả năng từ chối truy nhập dựa trên các địa chỉ nguồn. Nhờ mô hình Firewall mà
các máy chủ dịch vụ trong mạng LAN được bảo vệ an toàn, mọi thôn tin trao đổi với
internet đều được kiểm soát thông qua gateway.
1.3.1. Kiến trúc Dual - Homed host (máy chủ trung gian)
Firewall kiến trúc kiểu Dual-homed host được xây dựng dựa trên máy tính
Dual-homed host. Một máy tính được gọi là Dual-homed host nếu có ít nhất hai
Network interfaces, có nghĩa là máy đó có gắn hai card mạng giao tiếp với hai mạng
khác nhau và như thế máy tính này đóng vai trò là router phần mềm. Kiến trúc Dual-
homed host rất đơn giản. Dual-homed host ở giữa, một bên được kết nối với Internet
và bên còn lại nối với mạng nội bộ (LAN).
Dual-homed host chỉ có thể cung cấp các dịch vụ bằng cách ủy quyền (proxy)
chúng hoặc cho phép users đăng nhập trực tiếp vào Dual-homes host. Mọi giao tiếp từ
một host trong mạng nội bộ và host bên ngoài đều bị cấm, Dual-homed host là nơi
giao tiếp duy nhất.
Internet
RemoteUser
Firewall
Dual-homed
host
Internalnetwork
User
User
User
Hình 1.6. Kiến trúc Dual - Homed host
1.3.2. Kiến trúc Screend Host
Screened host có cấu trúc ngược lại với cấu trúc Dual-homed host, kiến trúc này
cung cấp các dịch vụ từ một host bên trong mạng nội bộ, dùng một router tách rời với
mạng bên ngoài. Trong kiểu kiến trúc này, bảo mật chính là phương pháp Packet
Filtering.
Bastion host được đặt bên trong mạng nội bộ, Packet Filtering được cài trên
router. Theo cách này, Bastion host là hệ thống duy nhất trong mạng nội bộ mà những
host trên Internet có thể kết nối tới. Mặc dù vậy, chỉ những kiểu kết nối phù hợp (được
thiết lập trong Bastion host) mới được phép kết nối. Bất kỳ một hệ thống bên ngoài
nào cố gắng truy cập vào hệ thống hoặc các dịch vụ bên trong đều phải kết nối tới host
này. Vì thế, Bastion host là host cần phải được duy trì ở chế độ bảo mật cao. Packet
Filtering cũng cho phép Bastion host có thể mở kết nối ra bên ngoài.
Cấu hình của packet filtering trên screening router như sau :
- Cho phép tất cả các host bên trong mở kết nốt tới host bên ngoài thông qua
một số dịch vụ cố định.
- Không cho phép tất cả các kết nối từ host bên trong (cấm những host này sử
dụng dịch vụ proxy thông qua Bastion host).
- Bạn có thể kết hợp nhiều lối vào cho những dịch vụ khác nhau.
- Một số dịch vụ được phép đi vào trực tiếp qua packet filtering.
- Một số dịch vụ khác thì chỉ được phép đi vào gián tiếp qua proxy.
Bởi vì kiến trúc này cho phép các packet đi từ bên ngoài vào mạng bên trong,
nó dường như nguy hiểm hơn kiến trúc Dual-homed host, vì thế nó được thiết kế để
không một packet nào có thể tới được mạng bên trong. Tuy nhiên trên thực tế thì kiến
trúc Dual-homes host đôi khi cũng có lỗi mà cho phép một packet thật sự đi từ bên
ngoài vào bên trong (bởi vì những lỗi này hoàn toàn không biết trước, nó hầu như
không được bảo vệ để chống lại những kiểu tấn công này) . Hơn nữa, kiến trúc Dual-
homes host thì dễ dàng bảo vệ router (là máy cung cấp rất ít các dịch vụ) hơn là bảo vệ
các host bên trong mạng.
Xét về toàn diện thì kiến trúc Screened host cung cấp độ tin cậy cao hơn và an
toàn hơn kiến trúc Dual-homed host.
So sánh với mộ số kiến trúc khác, chẳn hạn như kiến trúc Screened subnet thì
kiến trúc Screened host có một số bất lợi. Bất lợi chính là nếu kẻ tấn công tìm cách
xâm nhập Bastion host thì không có cách nào để ngăn tách giữa Bastion host và các
host còn lại bên trong mạng nội bộ. Router cũng có một số điểm yếu là nếu router bị
tổn thương, toàn bộ mạng sẽ bị tấn công.
Vì lý do này mà Screened subnet trở thành kiến trúc phổ biến nhất.
Internet
RemoteUser
Firewall
Screening
Router
Internalnetwork
User
User
User
BastionHost
Hình 1.7. Kiến trúc Screened host
1.3.3. Kiến trúc Screened Subnet
Nhằm tăng cường khả năng bảo vệ mạng nội bộ, thực hiện chiến lược phòng
thủ theo chiều sâu, tăng cường sự an toàn cho bastion host, tách bastion host khỏi các
host khác, phần nào tránh lây lan một khi bastion host bị tổn thương, người ta đưa ra
kiến trúc Firewall có tên là Screened subnet.
Kiến trúc Screened subnet dẫn xuất từ kiến trúc Screened host bằng cách thêm
vào phần an toàn: mạng ngoại vi (perimeter network) nhằm cô lập mạng nội bộ ra khỏi
mạng bên ngoài, tách bastion host ra khỏi các host thông thường khác. Kiểu Screen
subnet đơn giản bao gồm hai screened router:
- Router ngoài (External router còn gọi là access router): nằm giữa mạng
ngoại vi và mạng ngoài có chức năng bảo vệ cho mạng ngoại vi (bastion
host, interior router). Nó cho phép ngững gì outbound từ mạng ngoại vi.
Một số quy tắc packet filtering đặc biệt được cài ở mức cần thiết đủ để bảo
vệ bastion host và interior router vì bastion host còn là host được cài đặt an
toàn ở mức cao. Ngoài các quy tắc đó, các quy tắc khác cần giống nhau giữa
hai router.
- Router trong (Interior router còn gọi là choke router): nằm giữa mạng ngoại
vi và mạng nội bộ, nhằm bảo vệ mạng nôi bộ trước khi ra ngoài và mạng
ngoại vi. Nó không thực hiện hết các quy tắc packet filtering của toàn bộ
firewall. Các dịch vụ mà interior router cho phép giữa bastion host và mạng
nội bộ, giữa bên ngoài và mạng nội bộ không nhất thiết phải giống nhau.
Giới hạn dịch vụ giữa bastion host và mạng nội bộ nhằm giảm số lượng máy
(số lượng dịch vụ trên các máy này) có thể bị tấn công khi bastion host bị
tổn thương và thỏa hiệp với bên ngoài. Chẳng hạn nên giới hạn các dịch vụ
được phép giữa bastion host và mạng nội bộ như SMTP khi có Email từ bên
ngoài vào, có lẽ chỉ giới hạn kết nối SMTP giữa bastion host và email server
bên trong.
Internet
Bastion Host
ExteriorRouter
PerimeterNetwork
InteriorRouter
InternalNetwork
User
User
User
User
Hình 1.8. Kiến trúc Screened Subnet
1.4. PHÂN LOẠI FIREWALL
Hiện nay có nhiều loại Firewall, để tiện cho quá trình nghiên cứu và phát triển,
người ta chia Firewall ra làm hai loại chính bao gồm:
- Packet Filtering Firewall: là hệ thống tường lửa giữa các thành phần bên
trong mạng và bên ngoài mạng có kiểm soát.
- Application-proxy Firewall: là hệ thống cho phép kết nối trực tiếp giữa các
máy khách và các host.
1.4.1. Packet Filtering Firewall
Đây là kiểu Firewall thông dụng hoạt động dựa trên mô hình OSI mức mạng.
Firewall mức mạng thường hoạt động theo nguyên tắc router hay còn được gọi
là router, tức là tạo ra các luật lệ về quyền truy cập mạng dựa trên mức mạng. Mô hình
này hoạt động theo nguyên tắc lọc gói tin. Ở kiểu hoạt động này các gói tin đều được
kiểm tra địa chỉ nguồn nơi chúng xuất phát. Sau khi địa chỉ IP nguồn được xác định,
nó sẽ tiếp tục được kiểm tra với các luật đã đặt ra trên router.
Với phương thức hoạt động như vậy, các Firewall hoạt động ở lớp mạng có tốc
độ xử lý nhanh vì nó chỉ kiểm tra địa chỉ IP nguồn mà không cần biết địa chỉ đó là địa
chỉ sai hay bị cấm. Đây chính là hạn chế của kiểu Firewall này vì nó không đảm bảo
tính tin cậy.
Lỗ hổng của kiểu Firewall này là nó chỉ sử dụng địa chỉ IP nguồn để làm chỉ
thị. Khi một gói tin mang địa chỉ nguồn là địa chỉ giả thì nó sẽ vượt qua được một số
mức truy nhập để vào bên trong mạng.
Firewall kiểu packet filtering chia làm hai loại:
- Packet filtering firewall: Hoạt động tại lớp mạng (Network Layer) của mô
hình OSI. Các luật lọc gói tin dựa trên các trường trong IP header, transport
header, địa chỉ IP nguồn và địa chỉ IP đích …
Securityperimeter
Private
Network
Internet
Packet
filtering
router
Hình 1.9. Packet filtering firewall
- Circuit level gateway: Hoạt động tại lớp phiên (Session Layer) của mô hình
OSI. Mô hình này không cho phép các kết nối end to end.
Circuitlevel
gateway
outside
connection
out
out
out
in
Outsidehost
in
inside
connection
in
Insidehost
Hình 1.10. Circuit level gateway
1.4.2. Application-proxy firewall
Khi mộ kết nối từ một người dùng nào đó đến mạng sử dụng Firewall kiểu này
thì kết nối đó sẽ bị chặn lại, sau đó Firewall sẽ kiểm tra các trường có liên quan của
gói tin yêu cầu kết nối. Nếu việc kiểm tra thành công, có nghĩa là các trường thông tin
đáp ứng được các luật đặt ra trên Firewall thì Firewall sẽ tạo mộ cầu kết nối cho gói tin
đi qua.
* Ưu điểm:
- Không có chức năng chuyển tiếp các gói tin IP.
- Điều khiển một cách chi tiết hơn các kết nối thông qua Firewall.
- Đưa ra công cụ cho phép ghi lại quá trình kết nối.
* Nhược điểm:
- Tốc độ xử lý khá chậm.
- Sự chuyển tiếp các gói tin IP khi mộ máy chủ nhận được mộ yêu cầu từ
mạng ngoài rồi chuyển chúng vào mạng trong chính là lỗ hổng cho hacker
xâm nhập.
- Kiểu firewallnày hoạt động dựa trên ứng dựng phần mềm nên phải tạo cho
mỗi dịch vụ trên mạng một trình ứng dựng uỷ quyền (proxy) trên Firewall
(Ex. Ftp proxy, Http proxy).
* Firewall kiểu Application- proxy chia thành hai loại:
- Applicatin level gateway: Hoạt động ở lớp ứng dụng (Application Layer)
trong mô hình TCP/IP.
Application
levelgateway
outside
inside
connection
connection
TELNET
FTP
Outsidehost
Insidehost
SMTP
HTTP
Hình 1.11. Application-proxy firewall
- Stateful multilayer inspection firewall: Đây là loại Firewall kết hợp được
tính năng của các loại Firewall trên, mô hình này lọc các gói tin tại lớp
mạng và kiểm tra nội dung các gói tin tại lớp ứng dụng. Loại Firewall này
cho phép các kết nối trực tiếp giữa client và host nên giảm thiểu được lỗi, nó
cung cấp các tính năng bảo mật cao và trong suốt đối với End Users.
1.5. MỘT SỐ VẤN ĐỀ KHI LỰA CHỌN MỘT FIREWALL
1.5.1. Có cần Firewall ?
Giải quyết đến thực thi vấn đề Firewall sẽ không xảy ra nếu không nghiên cứu
và phân tích. Giải quyết đến vấn đề thực thi Firewall sẽ dựa những đòi hỏi phải định
danh và chứng minh. Bởi vì thực thi của Firewall không được định danh như hướng
giải quyết của những tổ chức khác. Tạo ra những Firewall dựa vào quy mô nhỏ, những
ý nghĩa không thể tạo ra được bởi lổ hổng an ninh và cơ chế gây ra những vấn đề
mạng lưới nhiều hơn là thực hiện Firewall.
1.5.2. Firewall điều khiển và bảo vệ gì ?
Để tạo ra một Firewall thì phải định danh cho được chức năng nào của Firewall
sẽ cần để thực hiện. Nó sẽ điều khiển truy cập đến từ mạng lưới nào, hay nó sẽ bảo vệ
những dịch vụ và người sử dụng nào.
Firewall điều khiển gì ?
- Truy cập vào mạng.
- Truy cập ngoài mạng.
- Truy cập trong những mạng lưới bên trong, những lĩnh vực hay những công
trình kiến trúc.
- Truy cập những nhóm đặt trưng, nhũng người sử dụng hoặc địa chỉ.
- Truy cập đến những tài nguyên cụ thể hoặc những dịch vụ.
Firewall cần bảo vệ cái gì?
- Những mạng lưới hoặc bộ điều khiển đặc biệt.
- Dịch vụ đặc biệt.
- Thông tin riêng tư hoặc công cộng.
- Người sử dụng.
Sau khi nhận ra được Firewall cần để bảo vệ và điều khiển cái gì, quyết định
điều gì có thể xảy ra liên tục với sự bảo vệ và điểu khiển này. Điều gì sẽ xảy ra khi
người sử dụng truy cập đến những trang mà không có quyền truy cập. Điều này sẽ xảy
ra nếu dịch vụ không được bảo vệ và thông tin không được bảo mật tốt. Có phải sự rủi
ro của việc điều khiển hoặc bảo vệ đủ cho bước kế tiếp trong ước lượng thì cần phải có
giải pháp Firewall.
1.6. NHỮNG HẠN CHẾ CỦA FIREWALL
Firewall không đủ thông minh như con người để có thể đọc hiểu từng loại thông
tin và phân tích nội dung tốt hay xấu của nó. Firewall chỉ có thể ngăn chặn sự xâm
nhập của những nguồn thông tin không mong muốn nhưng phải xác định rõ các thông
số địa chỉ.
Firewall không thể ngăn chặn một cuộc tấn công nếu cuộc tấn công này không
"đi qua" nó. Một cách cụ thể, Firewall không thể chống lại một cuộc tấn công từ một
đường dial-up, hoặc sự rò rỉ thông tin do dữ liệu bị sao chép bất hợp pháp lên đĩa
mềm.
Firewall cũng không thể chống lại các cuộc tấn công bằng dữ liệu (data-drivent
attack). Khi có một số chương trình được chuyển theo thư điện tử, vượt qua Firewall
vào trong mạng được bảo vệ và bắt đầu hoạt động ở đây.
Một ví dụ là các virus máy tính. Firewall không thể làm nhiệm vụ rà quét virus
trên các dữ liệu được chuyển qua nó, do tốc độ làm việc, sự xuất hiện liên tục của các
virus mới và do có rất nhiều cách để mã hóa dữ liệu, thoát khỏi khả năng kiểm soát của
Firewall. Firewall có thể ngǎn chặn những kẻ xấu từ bên ngoài nhưng còn những kẻ
xấu ở bên trong thì sao. Tuy nhiên, Firewall vẫn là giải pháp hữu hiệu được áp dụng
rộng rãi.
Để có được khả nǎng bảo mật tối ưu cho hệ thống, Firewall nên được sử dụng
kết hợp với các biện pháp an ninh mạng như các phần mềm diệt virus, phần mềm đóng
gói, mã hoá dữ liệu. Đặc biệt, chính sách bảo mật được thực hiện một cách phù hợp và
có chiều sâu là vấn đề sống còn để khai thác tối ưu hiệu quả của bất cứ phần mềm bảo
mật nào. Và cũng cần nhớ rằng công nghệ chỉ là một phần của giải pháp bảo mật. Một
nhân tố nữa hết sức quan trọng quyết định thành công của giải pháp là sự hợp tác của
nhân viên, đồng nghiệp.
CHƯƠNG 2
ĐỀ XUẤT MỘT GIẢI PHÁP FIREWALL CHO MỘT
DOANH NGHIỆP NHỎ
2.1. TÌM HIỂU VỀ AN TOÀN VÀ BẢO MẬT CHO MẠNG MÁY TÍNH
DOANH NGHIỆP
An ninh mạng là các giải pháp bảo vệ mạng máy tính, bảo vệ các ứng dụng trên
mạng, phòng chống các thay đổi, phá hoại, xâm nhập trái phép vào hệ thống mạng. An
ninh mạng còn bao hàm là đảm bảo cho mạng hoạt động ổn định, các chức năng then
chốt hoạt động chính xác và không bị các tác động có hại từ bên ngoài.
2.1.1. Nguyên tắc bảo vệ hệ thống mạng
2.1.1.1. Hoạch định hệ thống bảo vệ mạng
Trong môi trường mạng, phải có sự đảm bảo rằng những dữ liệu có tính bí mật
phải được cất giữ riêng, sao cho chỉ có người có thẩm quyền mới được phép truy cập
chúng. Bảo mật thông tin là việc làm quan trọng, và việc bảo vệ hoạt động mạng cũng
có tầm quan trong không kém.
Mạng máy tính cần được bảo vệ an toàn, tránh khỏi những hiểm hoạ do vô tình
hay cố ý. Tuy nhiên một nhà quản trị mạng cần phải biết bất cứ cái gì cũng có mức độ,
không nên thái quá. Mạng không nhất thiết phải được bảo vệ quá cẩn mật, đến mức
người dùng luôn gặp khó khăn khi truy nhập mạng để thực hiện nhiệm vụ của mình.
Không nên để họ thất vọng khi cố gắng truy cập các tập tin của chính mình.
Bốn hiểm hoạ chính đối với sự an ninh của mạng là:
- Truy nhập mạng bất hợp pháp.
- Sự can thiệp bằng phương tiện điện tử.
- Kẻ trộm.
- Tai họa vô tình hoặc có chủ ý.
Mức độ bảo mật: Tuỳ thuộc vào dạng môi trường trong đó mạng đang hoạt
động.
Chính sách bảo mật: Hệ thống mạng đòi hỏi một tập hợp nguyên tắc, điều luật
và chính sách nhằm loại trừ mọi rủi ro. Giúp hướng dẫn vượt qua các thay đổi và
những tình huống không dự kiến trong quá trình phát triển mạng.
Đào tạo: Người dùng mạng được đào tạo chu đáo sẽ có ít khả năng vô ý phá
huỷ một tài nguyên.
An toàn cho thiết bị: Tuỳ thuộc ở quy mô công ty, độ bí mật dữ liệu, các tài
nguyên khả dụng. Trong môi trường mạng ngang hàng, có thể không có chính sách
bảo vệ phần cứng có tổ chức nào. Người dùng chịu trách nhiệm đảm bảo an toàn cho
máy tính và dữ liệu của riêng mình.
2.1.1.2. Mô hình bảo mật
Hai mô hình bảo mật khác nhau đã phát triển, giúp bảo vệ an toàn dữ liệu và tài
nguyên phần cứng:
- Bảo vệ tài nguyên dùng chung bằng mật mã: Gắn mật mã cho từng tài
nguyên dùng chung.
- Truy cập khi được sự cho phép: Là chỉ định một số quyền nhất định trên cơ
sở người dùng, kiểm tra truy nhập tài nguyên dùng chung căn cứ vào CSDL
user-access trên máy server.
2.1.1.3. Nâng cao mức độ bảo mật
Kiểm toán: Theo dõi hoạt động trên mạng thông qua tài khoản người dùng, ghi
lại nhiều dạng biến cố chọn lọc vào sổ nhật ký bảo mật của máy server. Giúp nhận biết
các hoạt động bất hợp lệ hoặc không chủ định. Cung cấp các thông tin về cách dùng
trong tình huống có phòng ban nào đó thu phí sử dụng một số tài nguyên nhất định, và
cần quyết định phí của những tài nguyên này theo cách thức nào đó.
Máy tính không đĩa: Không có ổ đĩa cứng và ổ mềm. Có thể thi hành mọi việc
như máy tính thông thường, ngoại trừ việc lưu trữ dữ liệu trên đĩa cứng hay đĩa mềm
cục bộ. Không cần đĩa khởi động. Có khả năng giao tiếp với server và đăng nhập nhờ
vào một con chip ROM khởi động đặc biệt được cài trên card mạng. Khi bật máy tính
không đĩa, chip ROM khởi động phát tín hiệu cho server biết rằng nó muốn khởi động.
Server trả lời bằng cách tải phần mềm khởi động vào RAM của máy tính không đĩa và
tự động hiển thị màn hình đăng nhập . Khi đó máy tính được kết nối với mạng.
Mã hoá dữ liệu: Đó là mã hoá thông tin sang dạng mật mã bằng một phương
pháp nào đó sao cho đảm bảo thông tin đó không thể nhận biết được nếu nơi nhận
không biết cách giải mã. Một người sử dụng hay một host có thể sử dụng thông tin mà
không sợ ảnh hưởng đến người sử dụng hay một host khác.
Chống virus :
- Ngăn không cho virus hoạt động.
- Sửa chữa hư hại ở một mức độ nào đó.
- Chặn đứng virus sau khi nó bộc phát.
Ngăn chặn tình trạng truy cập bất hợp pháp là một trong những giải pháp hiệu
nghiệm nhất để tránh virus. Do biện pháp chủ yếu là phòng ngừa, nên người quản trị
mạng phải bảo đảm sao cho mọi yếu tố cần thiết đều đã sẵn sàng:
- Mật mã để giảm khả năng truy cập bất hợp pháp.
- Chỉ định các đặc quyền thích hợp cho mọi người dùng.
- Các profile để tổ chức môi trường mạng cho người dùng có thể lập cấu hình
và duy trì môi trường đăng nhập, bao gồm các kết nối mạng và những khoản
mục chương trình khi người dùng đăng nhập.
- Một chính sách quyết định có thể tải phần mềm nào.
2.1.2. Kiến trúc bảo mật của hệ thống mạng
2.1.2.1. Các mức an toàn thông tin trên mạng
Hình 2.1. Các mức an toàn thông tin trên mạng
An toàn hay bảo mật không phải là một sản phẩm, nó cũng không phải là một
phần mềm. Nó là một cách nghĩ. Sự an toàn có thể được khởi động và dường như một
dịch vụ. Bảo mật là cách an toàn. Tài liệu bảo mật là tư liệu mà những thành viên của
tổ chức muốn bảo vệ. Trách nhiệm của việc bảo mật là người quản trị mạng.
Sự an toàn mạng có vai trò quan trọng tối cao. Cơ chế bảo mật cần phải bao
gồm cấu hình mạng của Server, chu vi ứng dụng của tổ chức mạng và thậm chí của
những Client truy nhập mạng từ xa. Có vài cách mà ta cần phải xem xét:
- Sự an toàn vật lý.
- An toàn hệ thống.
- An toàn mạng.
- An toàn các ứng dụng.
- Sự truy nhập từ xa và việc chấp nhận.
Các lỗ hổng bảo mật trên một hệ thống là các điểm yếu có thể tạo ra sự ngưng
trệ của dịch vụ, thêm quyền đối với người sử dụng hoặc cho phép các truy nhập không
hợp pháp vào hệ thống. Các lỗ hổng cũng có thể nằm ngay ở các dịch vụ cung cấp như
sendmail, web, ftp ... Ngoài ra các lỗ hổng còn tồn tại ngay chính tại hệ điều hành như
trong Windows NT, Windows 95, XP, UNIX hoặc trong các ứng dụng mà người sử
dụng thường xuyên sử dụng như Word processing, các hệ databases ...
2.1.2.2. Ảnh hưởng của các lỗ hổng mạng
Ở phần trên đã phân tích một số trường hợp có những lỗ hổng bảo mật, những
kẻ tấn công có thể lợi dụng những lỗ hổng này để tạo ra những lỗ hổng khác tạo thành
một chuỗi mắt xích những lỗ hổng. Ví dụ, một kẻ phá hoại muốn xâm nhập vào hệ
thống mà không có tài khoản truy nhập hợp lệ trên hệ thống đó. Trong trường hợp này,
trước tiên kẻ phá hoại sẽ tìm ra các điểm yếu trên hệ thống, hoặc từ các chính sách bảo
mật, hoặc sử dụng các công cụ dò xét thông tin trên hệ thống đó để đạt được quyền
truy nhập vào hệ thống. Sau khi mục tiêu duy nhất đã đạt được, kẻ phá hoại có thể tiếp
tục tìm hiểu các dịch vụ trên hệ thống, nắm bắt được các điểm yếu và thực hiện các
hành động phá hoại tinh vi hơn.
Tuy nhiên, có phải bất kỳ lỗ hổng bảo mật nào cùng nguy hiểm đến hệ thống
hay không. Có rất nhiều thông báo liên quan đến lỗ hổng bảo mật trên mạng Internet,
hầu hết trong số đó là các lỗ hổng loại C, là không đặc biệt nguy hiểm đối với hệ
thống. Ví dụ, khi những lỗ hổng về sendmail được thông báo trên mạng, không phải
ngay lập tức ảnh hưởng trên toàn bộ hệ thống. Khi những thông báo về lỗ hổng được
khẳng định chắc chắn, các nhóm tin sẽ đưa ra một số phương pháp để khắc phục hệ
thống.
2.1.3. Mô tả hiện trạng của doanh nghiệp
Trong tình hình mạng máy tính của doanh nghiệp nhỏ thì việc khảo sát hiện
trạng của doanh nghiệp là một điều rất quan trọng. Tình hình mạng máy tính của
doanh nghiệp như thế nào sẻ quyết định mô hình Firewall cho doanh nghiệp đó.
Trước hết phải thấy rằng mạng doanh nghiệp đặc biệt là mạng doanh nghiệp
nhỏ đòi hỏi phải rất gọn, không phức tạp như những công ty lớn về tin học, viễn thông.
Nhưng không phải vì điều đó mà việc bảo mật của mạng máy tính doanh nghiệp bị
xem nhẹ. Có thể nói việc bảo mật cho mạng doanh nghiệp là yêu cầu hàng đầu của các
doanh nghiệp đối với các nhà quản trị mạng. Việc bảo mật tốt dữ liệu của các mạng
doanh nghiệp là vấn đề sống còn của doanh nghiệp.
Khảo sát hiện trạng của doanh nghiệp cho một cái nhìn tổng quát về mạng máy
tính của doanh nghiệp. Từ tình trạng của doanh nghiệp giúp quyết định được sẽ chọn
loại Firewall cho phù hợp.
Do doanh nghiệp thuộc vào doanh nghiệp nhỏ nên có quy mô cơ sở vật chất
trang thiết bị máy tính cũng như hạ tầng mạng không lớn lắm. Hiện trạng của doanh
nghiệp sẽ quyết định tới mô hình Firewall mà ta sẽ lựa chọn cho phù hợp.
Để hỗ trợ cho Firewall của doanh nghiệp người quản trị mạng cuả doanh nghiệp
phải luôn luôn cập nhật những lỗ hổng bảo mật mới của phần mềm Firewall đang sử
dụng. Bên cạnh đó thường xuyên tìm hiểu những cách thức tấn công mới của những kẻ
phá hoại để từ đó đề ra những phương án phòng chống hữu hiệu.
Hiện trạng của doanh nghiệp đó là nhưng cơ sở vật chất thiết bị máy tính của
doanh nghiệp, cách bố trí mạng như thế nào, tài khoản của người sử dụng … nếu nắm
rỏ được hiện trạng của doanh nghiệp thì việc vận hành Firewall sẽ dễ dàng hơn rất
nhiều và hiệu quả bảo vệ của Firewall cũng nâng lên rất nhiều. Việc phân chia quyền
sử dụng trong mạng doanh nghiệp cũng là một vấn đề cần quan tâm đối với người
quản trị mạng doanh nghiệp, phải có cái nhìn thật kỹ lưỡng và chính xác trong việc
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 30 trang mẫu của tài liệu "Đồ án Tìm hiểu Firewall", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
do_an_tim_hieu_firewall.pdf