Luận văn Tìm hiểu về nguyên lý hoạt động của ổ đĩa cứng

Đàm Phương KHMT1K2 HaUI 2011  
MỤC LỤC  
Nguyên lý làm việc của ổ đĩa cứng  
1
Đàm Phương KHMT1K2 HaUI 2011  
Nguyên lý làm việc của ổ đĩa cứng  
2
 
Đàm Phương KHMT1K2 HaUI 2011  
LỜI NÓI ĐẦU  
Trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin và truyền thông hiện  
nay, vai trò của chiếc máy vi tính là cực kì quan trọng. Trong số các linh  
kiện cấu thành lên máy vi tính, chúng ta không thể không nhắc tới Ổ đĩa  
cứng. Ổ đĩa cứng thiết bị dùng để lưu trữ dữ liệu của máy vi tính. Từ  
xưa, ước muốn con người đã là làm sao bảo quản được các tài liệu quý giá  
dưới sự tác động của thời gian. Ngày nay, với sự xuất hiện của máy vi tính,  
đặc biệt ổ đĩa cứng, các tài liệu đó đã được lưu trữ, sắp xếp tổ chức khoa  
học, thật dễ dàng sử dụng. Từ khi ra đời chiếc ổ cứng đầu tiên trên thế  
giới(1955) cho tới nay(2011), công nghệ lưu trữ cũng như công nghệ sản  
xuất ổ đĩa cứng đã phát triển rất mạnh mẽ. Giờ đây, chỉ với số tiền không  
lớn, khoảng gần 1 triệu Việt Nam đồng, chúng ta đã thể sở hữu một  
chiếc ổ cứng với dung lượng 160GB(ổ cứng 3.5 inch gắn trong).  
Em chọn đề tài thực tập “Tìm hiểu về nguyên lý hoạt động của ổ đĩa  
cứng” phần nhiều là do ham muốn tìm hiểu về nó, phần nhỏ là do em đã  
từng phải thay thế, sửa chữa khả nhiều ổ cứng do chúng bị hỏng.  
Em xin gửi lời cám ơn chân thành và sâu sắc tới thầy giáo Nguyễn  
Tuấn Tú vì thầy đã giúp đỡ, hướng dẫn em tận tình trong quá trình em thực  
hiện đề tài này.  
Sinh viên thực hiện  
Đàm Phương  
Nguyên lý làm việc của ổ đĩa cứng  
3
 
Đàm Phương KHMT1K2 HaUI 2011  
CHƯƠNG 1  
TỔNG QUAN VÀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA  
Ổ ĐĨA CỨNG  
1.1. Tổng quan về ổ đĩa cứng  
Ổ đĩa cứng, hay còn gọi ổ cứng (tiếng Anh: Hard Disk Drive, viết tắt:  
HDD) là thiết bị dùng để lưu trữ dữ liệu trên bề mặt các tấm đĩa hình tròn phủ  
vật liệu từ tính. Ổ đĩa cứng loại bộ nhớ "không thay đổi" (non-volatile), có  
nghĩa là chúng không bị mất dữ liệu khi ngừng cung cấp nguồn điện cho chúng.  
Ổ đĩa cứng một thiết bị rất quan trọng trong hệ thống bởi chúng chứa dữ liệu  
thành quả của một quá trình làm việc của những người sử dụng máy tính. Những  
sự hư hỏng của các thiết bị khác trong hệ thống máy tính có thể sửa chữa hoặc  
thay thế được, nhưng dữ liệu bị mất do yếu tố hư hỏng phần cứng của ổ đĩa cứng  
thường rất khó lấy lại được.  
Ổ đĩa cứng một khối duy nhất, các đĩa cứng được lắp ráp cố định trong  
ngay từ khi sản xuất nên không thể thay thế được các "đĩa cứng" như với cách  
hiểu như đối với ổ đĩa mềm hoặc ổ đĩa quang. Ổ cứng thường được gắn liền với  
máy tính để lưu trữ dữ liệu cho dù chúng xuất hiện muộn hơn so với những  
chiếc máy tính đầu tiên.  
Với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ, ổ đĩa cứng ngày nay có  
kích thước càng nhỏ đi đến các chuẩn thông dụng với dung lượng thì ngày càng  
tăng lên. Những thiết kế đầu tiên ổ đĩa cứng chỉ dành cho các máy tính thì ngày  
nay ổ đĩa cứng còn được sử dụng trong các thiết bị điện tử khác như máy nghe  
nhạc kĩ thuật số, máy ảnh số, điện thoại di động thông minh (SmartPhone), máy  
quay phim kĩ thuật số, thiết bị kỹ thuật số hỗ trợ cá nhân...  
Không chỉ tuân theo các thiết kế ban đầu, ổ đĩa cứng đã những bước  
tiến công nghệ nhằm giúp lưu trữ và truy xuất dữ liệu nhanh hơn: dụ sự xuất  
hiện của các ổ đĩa cứng lai giúp cho hệ điều hành hoạt động tối ưu hơn, giảm  
thời gian khởi động của hệ thống, tiết kiệm năng lượng, sự thay đổi phương thức  
ghi dữ liệu trên các đĩa từ làm cho dung lượng mỗi ổ đĩa cứng tăng lên đáng kể.  
Nguyên lý làm việc của ổ đĩa cứng  
4
     
Đàm Phương KHMT1K2 HaUI 2011  
1.2. Lịch sử phát triển của ổ đĩa cứng  
Năm 1955, ổ cứng đầu tiên trên thế giới có là IBM 350 Disk File được  
chế tạo bởi Reynold Johnson ra mắt năm 1955 cùng máy tính IBM 305. Ổ cứng  
này có tới 50 tấm đĩa kích thước 24" với tổng dung lượng là 5 triệu tự. Một  
đầu từ được dùng để truy nhập tất cả các tấm đĩa khiến cho tốc độ truy nhập  
trung bình khá thấp.  
Hình 01: Ổ cứng IBM 350 Disk File  
Năm 1961, thiết bị lưu trữ dữ liệu IBM 1301 ra mắt năm 1961 bắt đầu sử  
dụng mỗi đầu từ cho một mặt đĩa. Ổ đĩa đầu tiên có bộ phận lưu trữ tháo lắp  
được IBM 1311. này sử dụng đĩa IBM 1316 có dung lượng 2 triệu tự.  
Nguyên lý làm việc của ổ đĩa cứng  
5
 
Đàm Phương KHMT1K2 HaUI 2011  
Hình 02: thiết bị lưu trữ dữ liệu IBM 1301  
Năm 1973, IBM giới thiệu hệ thống đĩa 3340 "Winchester", ổ đĩa đầu tiên  
sử dụng kĩ thuật lắp ráp đóng hộp (sealed head/disk assembly - HDA). Kĩ sư  
trưởng dự án/chủ nhiệm dự án Kenneth Haughton đặt tên theo "súng trường  
Winchester" 30-30 sau khi một thành viên trong nhóm gọi nó là "30-30" vì các  
trục quay 30 MB của ổ đĩa cứng. Hầu hết các ổ đĩa hiện đại ngày nay đều sử  
dụng công nghệ này, và cái tên "Winchester" trở nên phổ biến khi nói về ổ đĩa  
cứng dần biến mất trong thập niên 1990. Trong một thời gian dài, ổ đĩa cứng  
có kích thước lớn cồng kềnh, thích hợp với một môi trường được bảo vệ của  
một trung tâm dữ liệu hoặc một văn phòng lớn hơn là trong môi trường công  
nghiệp khắc nghiệt (vì sự mong manh), hay văn phòng nhỏ hoặc nhà riêng (vì  
kích cỡ quá khổ lượng điện năng tiêu thụ). Trước thập niên 1980, hầu hết ổ  
đĩa cứng có các tấm đĩa c8" (20 cm) hoặc 14-inch (35 cm), cần một giá thiết bị  
cũng như diện tích sàn đáng kể (tiêu biểu là các ổ đĩa cứng lớn đĩa tháo lắp  
được, thường được gọi là "máy giặt"), và trong nhiều trường hợp cần tới điện  
cao áp hoặc thậm chí điện ba pha cho những tơ lớn chúng dùng. Vì lí do đó,  
các ổ đĩa cứng không được dùng phổ biến trong máy vi tính đến tận năm 1980,  
khi Seagate Technology cho ra đời ổ đĩa ST-506 - ổ đĩa 5,25" đầu tiên có dung  
lượng 5 MB. Có một thực tế là trong cấu hình xuất xưởng, máy IBM PC (IBM  
5150) không được trang bị ổ đĩa cứng.  
Nguyên lý làm việc của ổ đĩa cứng  
6
Đàm Phương KHMT1K2 HaUI 2011  
Hình 03: hệ thống đĩa 3340 "Winchester"  
Thập niên 1990, đa số các ổ đĩa cứng cho máy vi tính đầu thập kỷ 1980  
không bán trực tiếp cho người dùng cuối bởi nhà sản xuất bởi các OEM như  
một phần của thiết bị lớn hơn (như Corvus Disk System và Apple ProFile).  
Chiếc IBM PC/XT được bán ra đã một ổ đĩa cứng lắp trong nhưng xu hướng  
tự cài đặt nâng cấp bắt đầu xuất hiện. Các công ty chế tạo ổ đĩa cứng bắt đầu  
tiếp thị với người dùng cuối bên cạnh OEM và đến giữa thập niên 1990, ổ đĩa  
cứng bắt đầu xuất hiện trong các cửa hàng bán lẻ. Ổ đĩa lắp trong ngày càng  
được sử dụng nhiều trong PC trong khi các ổ đĩa lắp ngoài tiếp tục phổ biến trên  
máy Macintosh của hãng Apple và các nền tảng khác. Mỗi máy Mac sản xuất  
giữa giữa các năm 1986 và 1998 đều một cổng SCSI phía sau khiến cho việc  
lắp đặt thêm phần cứng mới trở nên dễ dạng; tương tự như vậy, "toaster" (máy  
nướng bánh) Mac không có chỗ cho ổ đĩa cứng (hay trong Mac Plus không có  
chỗ lắp ổ đĩa cứng), các đời tiếp theo cũng vậy thế nên SCSI lắp ngoài là có  
thể hiểu được. Các ổ đĩa SCSI lắp ngoài cũng phổ biến trong các máy vi tính cổ  
như loạt Apple II và Commodore 64, và cũng được sử dụng rộng rãi trong máy  
chủ cho đến tận ngày nay. Sự xuất hiện vào cuối thập niên 1990 của các chuẩn  
giao tiếp ngoài như USB và FireWire khiến cho ổ đĩa cứng lắp ngoài trở nên phổ  
biến hơn trong người dùng thông thường đặc biệt đối với những ai cần di chuyển  
một khối lượng lớn dữ liệu giữa hai địa điểm. thế, phần lớn các ổ đĩa cứng  
sản xuất ra đều trở thành lõi của các vỏ lắp ngoài.  
Nguyên lý làm việc của ổ đĩa cứng  
7
Đàm Phương KHMT1K2 HaUI 2011  
Hình 04: Ổ đĩa SCSI  
Ngày nay, dung lượng ổ đĩa cứng tăng trưởng theo hàm mũ với thời gian.  
Đối với những máy PC thế hệ đầu, ổ đĩa dung lượng 20 megabyte được coi là  
lớn. Cuối thập niên 1990 đã những ổ đĩa cứng với dung lượng trên 1  
gigabyte. Vào thời điểm đầu năm 2005, ổ đĩa cứng có dung lượng khiêm tốn  
nhất cho máy tính để bàn còn được sản xuất có dung lượng lên tới 40 gigabyte  
còn ổ đĩa lắp trong có dung lượng lớn nhất lên tới một nửa terabyte (500 GB), và  
những ổ đĩa lắp ngoài đạt xấp xỉ một terabyte. Cùng với lịch sử phát triển của  
PC, các họ ổ đĩa cứng lớn là MFM, RLL, ESDI, SCSI, IDE và EIDE, và mới  
nhất là SATA. Ổ đĩa MFM đòi hỏi mạch điều khiển phải tương thích với phần  
điện trên ổ đĩa cứng hay nói cách khác là ổ đĩa mạch điều khiền phải tương  
thích. RLL (Run Length Limited) là một phương pháp mã hóa bit trên các tấm  
đĩa giúp làm tăng mật độ bit. Phần lớn các ổ đĩa RLL cần phải tương thích với  
bộ điều khiển nó làm việc với. ESDI là một giao diện được phát triển bởi  
Maxtor làm tăng tốc trao đổi thông tin giữa PC và đĩa cứng. SCSI (tên là  
SASI dành cho Shugart (sic) Associates), viết tắt cho Small Computer System  
Interface, là đối thủ cạnh tranh ban đầu của ESDI. Khi giá linh kiện điện tử giảm  
(do nhu cầu tăng lên) các chi tiết điện tử trước kia đặt trên cạc điều khiển đã  
được đặt lên trên chính ổ đĩa cứng. Cải tiến này được gọi ổ đĩa cứng tích hợp  
linh kiện điện tử (Integrated Drive Electronics hay IDE). Các nhà sản xuất IDE  
mong muốn tốc độ của IDE tiếp cận tới tốc độ của SCSI. Các ổ đĩa IDE chậm  
hơn do không có bộ nhớ đệm lớn như các ổ đĩa SCSI và không có khả năng ghi  
trực tiếp lên RAM. Các công ty chế tạo IDE đã cố gắng khắc phục khoảng cách  
tốc độ này bằng phương pháp đánh địa chlogic khối (Logical Block Addressing  
- LBA). Các ổ đĩa này được gọi là EIDE. Cùng lúc với sự ra đời của EIDE, các  
nhà sản xuất SCSI đã tiếp tục cải tiến tốc độ SCSI. Những cải tiến đó đồng thời  
khiến cho giá thành của giao tiếp SCSI cao thêm. Để thể vừa nâng cao hiệu  
suất của EIDE vừa không làm tăng chi phí cho các linh kiện điện tử không có  
Nguyên lý làm việc của ổ đĩa cứng  
8
Đàm Phương KHMT1K2 HaUI 2011  
cách nào khác là phải thay giao diện kiểu "song song" bằng kiểu "nối tiếp", và  
kết quả sự ra đời của giao diện SATA. Tuy nhiên, hiệu suất làm việc của các ổ  
đĩa cứng SATA thế hệ đầu và các ổ đĩa PATA không có sự khác biệt đáng kể.  
Hiện nay, ổ đĩa cứng giao diện SATA là thông dụng hơn cả trên toàn thế  
giới. Hãng Western Digital đã đưa ra ổ cứng WD Caviar Green 3TB sử dụng  
giao tiếp SATA với giá bán là khoảng 4,7 triệu VND (239 USD) và phiên bản  
2,5 TB sử dụng giao tiếp SATA sẽ có giá bán 3,7 triệu VND (189 USD). Ổ đĩa  
này có kích thước 3,5 inch sử dụng 4 lớp đĩa có dung lượng 750GB, có mức tiêu  
thụ điện năng thấp, nhiệt độ hoạt động cũng thấp hơn ổ đĩa cũng hoạt động  
yên tĩnh hơn.  
Hình 05: Ổ đĩa cứng giao diện IDE(hay còn gọi là PATA)  
Nguyên lý làm việc của ổ đĩa cứng  
9
Đàm Phương KHMT1K2 HaUI 2011  
Hình 06: Ổ đĩa cứng giao diện SATA  
Trên thị trường hiện nay còn xuất hiện ổ lưu trữ thể rắn ổ cứng gắn  
ngoài(External Drive). Ổ lưu trữ thể rắn SSD(Solid State Drive) là một thiết bị  
lưu trữ sử dụng bộ nhớ trạng thái rắn để lưu trữ dữ liệu trên máy tính một cách  
bền vững. Loại ổ cứng này lưu trữ dữ liệu dựa vào các tế bào nhớ, ở thể rắn, do  
đó gần như không gây tiếng ồn, không có độ trễ cơ học nên mang lại tốc đtruy  
cập cao hơn. Đồng thời không mất thời gian khởi động như ổ đĩa cứng (Hard  
Disk Drive). SSD sử dụng SRAM hoặc DRAM hoặc bộ nhớ FLash để lưu dữ  
liệu. SSD không có bộ phận chuyển động, vậy không giống như các ổ đĩa  
cứng truyền thống, ít có khả năng bị phá hủy do di chuyển tạo ra rất ít nhiệt  
hoặc thậm chí không có nhiệt. Chúng tương tự như các thẻ nhớ SD được tìm  
thấy trong máy ảnh kỹ thuật số và các thiết bị khác, hoặc bộ nhớ trong của  
iPhone, PSP Go, và các thiết bị cầm tay khác. SSD đang dần đc biết tới, tuy  
nhiên vẫn hạn chế nhất định. Hiện tại SSD có giả cả vẫn khá cao so với ổ cứng  
bình thường.(ổ SSD G.Skill dung lượng 60GB có giá gần 5 triệu đồng Việt  
Nam).  
Nguyên lý làm việc của ổ đĩa cứng  
10  
Đàm Phương KHMT1K2 HaUI 2011  
Hình 07: Ổ lưu trữ thể rắn  
Ổ cứng gắn ngoài hiện nay có giá đắt hơn ổ cứng gắn trong(một chiếc  
Samsung 160GB có giá khoảng 850000 đồng Việt Nam).  
Hình 08: Một ổ cứng gắn ngoài của hãng Western Digital  
Giờ đây(2011), người dùng máy tính có thể mua một ổ cứng giao diện  
SATA có dung lượng 160GB với giá khá rẻ, khoảng hơn bảy trăm ngàn đồng  
Việt Nam (so với năm 2007 là gần một triệu đồng Việt Nam). Các nhà phân  
phối linh kiện máy tính ở Việt Nam hầu hết chỉ nhập về ổ cứng với dung lượng  
nhỏ nhất là 160GB, ổ cứng dung lượng 80GB hiện giờ chỉ thể mua hàng cũ  
đã qua sử dụng.  
Western Digital vừa chính thức công bố phiên bản nâng cấp của dòng ổ  
cứng Caviar Blue 3,5 inch với giao tiếp SATA 6.0 Gbps. Theo đó ổ cứng mới  
này có tốc độ quay 7200 RPM và sử dụng công nghệ Advanced Format với  
Nguyên lý làm việc của ổ đĩa cứng  
11  
Đàm Phương KHMT1K2 HaUI 2011  
sector 4K. Western Digital 6.0 Gbps sẽ sẵn với các mức dung lượng lưu trlà  
250 GB, 320 GB, 500 GB, 750 GB và 1 TB. Và có bộ nhớ đệm 16 MB (phiên  
bản 500 GB và thấp hơn) hoặc 32 MB (phiên bản 750 GB và 1 TB). Hiện ổ  
cứng này đã mặt tại thị trường Châu Âu với mức giá tương ứng là 43,4 USD  
(250 GB), 44 USD (320 GB), 46 USD (500 GB), 60 USD (750 GB) và 71 USD  
(1 TB).  
Một số nhà sản xuất ổ đĩa cứng hàng đầu thế giới phải kể đến là: Western  
Digital, Seagate, Hitachi, Samsung,… Các hãng này hiện đang cạnh tranh nhau  
gay gắt về giá cả cũng như dung lượng, tính năng của ổ đĩa cứng.  
Nguyên lý làm việc của ổ đĩa cứng  
12  
 
Đàm Phương KHMT1K2 HaUI 2011  
CHƯƠNG 2  
CẤU TRÚC VẬT CỦA Ổ ĐĨA CỨNG  
2.1. Sơ đồ khối  
Hình 09: Sơ đồ khối của ổ đĩa cứng  
2.2. Nguyên lý làm việc đặc tính của các khối  
2.2.1. Đĩa từ  
Đĩa từ (platter) của ổ cứng là các đĩa bằng nhôm, thuỷ tinh, hoặc sứ có  
chế độ hoạt động tương đối năng, trên bề mặt được phủ một lớp vật liệu từ tính  
nơi chứa dữ liệu. Đĩa từ được coi là vật liệu từ. Từ tính gây ra bởi lực từ, lực  
từ một dạng lực điện từ, một trong những lực cơ bản của tự nhiên, nó được  
Nguyên lý làm việc của ổ đĩa cứng  
13  
       
Đàm Phương KHMT1K2 HaUI 2011  
sinh ra do chuyển động của các hạt điện tích. Trên bề mặt đĩa từ có các điểm  
từ tính. Khi các điểm từ tính đó suy giảm hoặc mất khả năng từ tính thì hệ thống  
gọi hiện tượng đó là bad sector. Vì các điểm từ tính đó là các hạt từ tính được  
gắn kết lên platter bằng công nghệ và hóa chất đặc biệt, không dễ loại bỏ hay  
bổ xung khả năng ttính cho nó. Đĩa từ được chế tạo rất đặc biệt giúp cho nó có  
khả năng lưu trữ tốt, an toàn và không bị “nhão” (nhả từ) như các thiết bị đọc  
ghi bằng từ tính khác (tuy nhiên cũng một số loại đĩa từ sản xuất không đạt  
tiêu chuẩn qua thời gian có hiện tượng bị “nhão”). Đĩa được phủ vật liệu từ ở cả  
hai mặt (môi trường lưu trữ thực) và bao bọc bằng lớp vỏ bảo vệ. Sau khi đã  
hoàn tất đánh bóng, các đĩa này được xếp chồng lên nhau và ghép nối với  
môtơ quay, chúng gắn song song, quay đồng trục, cùng tốc độ với nhau khi hoạt  
động. Số lượng đĩa thể nhiều hơn một, phụ thuộc vào dung lượng và công  
nghệ của mỗi hãng sản xuất khác nhau, có một số loại đĩa cứng chỉ một đĩa  
từ. Trước khi chồng đĩa được lắp cố định vào khung, cơ cấu các đầu từ được  
ghép vào giữa các đĩa.  
Hình 10: Đĩa từ bên trong ổ đĩa cứng  
thể coi mỗi mặt đĩa cứng một trường hai chiều: cao và rộng. Theo  
kiểu hình học này thì dữ liệu được ghi vào các vòng tròn đồng tâm, phân bố từ  
trục quay ra tới rìa đĩa. Mỗi vòng trong đồng tâm trên đĩa gọi Track. Track có  
thể được hiểu đơn giản giống các rãnh ghi dữ liệu giống như các đĩa nhựa (ghi  
âm nhạc trước đây) nhưng sự cách biệt của các rãnh ghi này không có các gờ  
Nguyên lý làm việc của ổ đĩa cứng  
14  
Đàm Phương KHMT1K2 HaUI 2011  
phân biệt và chúng là các vòng tròn đồng tâm chứ không nối tiếp nhau thành  
dạng xoắn trôn ốc như đĩa nhựa. Track trên ổ đĩa cứng không cố định từ khi sản  
xuất, chúng có thể thay đổi vị trí khi định dạng cấp thấp ổ đĩa (low format).  
Thông thường,mỗi đĩa từ 312 đến 2048 rãnh. Track là một tập hợp bao gồm  
một số sector nhất định nhưng dung lượng từng track khác nhau có độ lớn từ  
trong ra ngoài (Track 0>track 1 >track 2 >…>track N>track N+1).  
Khi một ổ đĩa cứng đã hoạt động quá nhiều năm liên tục, khi kết quả kiểm  
tra bằng các phần mềm cho thấy xuất hiện nhiều khối hư hỏng (bad block) thì có  
nghĩa phần cơ của đã rơ rão và làm việc không chính xác như khi mới sản  
xuất, lúc này thích hợp nhất là format cấp thấp cho nó để tương thích hơn với  
chế độ làm việc của phần cơ.  
Cylinder bao gồm những track có chung một tâm và đồng trục nằm trên  
những mặt đĩa từ. Tập hợp các track cùng bán kính (cùng số hiệu trên) các mặt  
đĩa khác nhau thành các cylinder.  
Hình 11: Hình mô tả Cylinder  
Nói một cách chính xác hơn thì: khi đầu đọc/ghi đầu tiên làm việc tại một  
track nào thì tập hợp toàn bộ các track trên các bề mặt đĩa còn lại mà các đầu  
đọc còn lại đang làm việc tại đó gọi là cylinder (cách giải thích này chính xác  
hơn bởi thể xảy ra thường hợp các đầu đọc khác nhau có khoảng cách đến  
tâm quay của đĩa khác nhau do quá trình chế tạo). Trên một ổ đĩa cứng nhiều  
cylinder bởi nhiều track trên mỗi mặt đĩa từ.  
Nguyên lý làm việc của ổ đĩa cứng  
15  
Đàm Phương KHMT1K2 HaUI 2011  
Hình 12: Mô tả Track/Cluster/Sector(cung từ)  
tơ trục quay bộ phận để gắn các đĩa từ lên nó, chúng được nối trực  
tiếp với động cơ quay đĩa cứng. Trục quay có nhiệm vụ truyền chuyển động  
quay từ động cơ đến các đĩa từ. Trục quay thường chế tạo bằng các vật liệu nhẹ  
(như hợp kim nhôm) và được chế tạo tuyệt đối chính xác để đảm bảo trọng tâm  
của chúng không được sai lệch - bởi chỉ một sự sai lệch nhỏ thể gây lên sự  
rung lắc của toàn bộ đĩa cứng khi làm việc ở tốc độ cao, dẫn đến quá trình  
đọc/ghi không chính xác.  
Hình 13: Mô tơ trục quay  
Một trong những yếu tố xác định chất lượng của ổ cứng tốc độ đĩa  
từ lướt qua dưới đầu đọc/ghi. Đĩa từ lướt qua đầu từ với tốc độ khá cao (ít nhất  
Nguyên lý làm việc của ổ đĩa cứng  
16  
Đàm Phương KHMT1K2 HaUI 2011  
là 3600 vòng/phút). Môtơ trục (spindle môtơ) chức năng làm quay các đĩa từ.  
Môtơ trục loại môtơ không có chỗi quét, chiều cao thấp, dùng điện một chiều,  
tương tự như môtơ trong ổ đĩa mềm. Khi môtơ được cấp điện, một từ trường  
được tạo ra trong các cuốn dây môtơ. Khi điện cắt, năng lượng từ trường lưu trữ  
trong các cuộn dây môtơ được giải phóng dưới dạng xung điện thế ngược. Kỹ  
thuật Hãm động (dynamic braking) sẽ sử dụng năng lượng của xung điện thế  
ngược đó đlàm dừng đĩa lại.  
Tốc độ quay của motor trục quay: Thông thường thì các loại đĩa cứng hiện  
nay có tốc độ quay từ 5200rpm đến 7200rpm(rpm viết tắt của round per minute,  
nghĩa số vòng quay trong một phút). Không chỉ thế trên thị trường hiện nay  
đã những loại ổ cứng chuyên dụng với khả năng tốc độ đến 10000rpm  
hoặc 15000rpm. Tốc độ quay giữ một vai trò thiết yếu đến tốc độ truy xuất dữ  
liệu của ổ cứng, quay càng nhanh thì đọc và ghi càng nhanh nhưng như thế cũng  
đồng nghĩa ổ cứng sẽ kêu to hơn và mau nóng hơn. Khi ổ cứng nóng lên (có  
nghĩa đĩa từ cũng sẽ nóng lên theo) sẽ làm cho lực từ bị hao hụt “nhiễu”  
lúc đó dữ liệu đọc và ghi sẽ rất nhiều vấn đề. Với những loại ỗ cứng tốc độ  
cao như thế này thì các nhà sản xuất luôn khuyến cáo người tiêu dùng nên trang  
bị thêm quạt giải nhiệt để kéo dài tuổi thọ dữ liệu của ổ cứng. Nhờ tốc độ  
cao như thế mà các ổ cứng thế hệ sau này đều khả năng đọc hết tất cả mọi  
sector trên cùng một track chỉ bằng một vòng quay. Tốc độ của motor trục quay  
luôn luôn là một hằng số, nếu bị thay đổi nghĩa ổ cứng đó không thể sử  
được nữa.  
2.2.2. Đầu từ, thanh mang đầu từ  
Đầu từ của ổ đĩa cứng thường được chế rao như trong ổ đĩa mềm, lõi sắt  
mềm cộng với 8 đến 34 (hoặc hơn) vòng dây đồng mảnh. Các đầu từ này có kích  
thước lớn tương đối năng làm hạn chế số rãnh có thể có trên mặt đĩa hệ  
thống chuyển dịch đầu từ phải khắc phục. Hiện nay, các thiết kế đầu từ đã loại  
bỏ các kiểu quấn dây cổ điển mà dùng loại đầu từ màng mỏng. được chế tạo  
giống như vi mạch dùng công nghệ quang hóa. Do kích thước nhnhẹ nên độ  
rộng của rãnh ghi cũng nhỏ hơn thời gian dịch chuyển đầu tư nhanh hơn.  
Trong cấu trúc tổng thể, các đầu từ này được gắn vào các cánh tay kim loại  
dài(gọi là thanh mang đầu từ) điều khiển bằng môtơ. Các vi mạch tiền khuếch  
đại của đầu từ thường được gắn trên tấm vi mạch in nhỏ nằm trong bộ dịch  
Nguyên lý làm việc của ổ đĩa cứng  
17  
 
Đàm Phương KHMT1K2 HaUI 2011  
chuyển đầu từ. Toàn bộ cấu trúc này được bọc kín trong hộp đĩa. Hộp được đậy  
kín bằng nắp kim loại gioăng lót.  
Hình 14: Đầu từ(head)  
Đầu từ đơn giản được cấu tạo gồm lõi ferit (trước đây là lõi sắt) cuộn  
dây (giống như nam châm điện). Gần đây các công nghệ mới hơn giúp cho ổ đĩa  
cứng hoạt động với mật độ xít chặt hơn như: chuyển các hạt từ sắp xếp theo  
phương vuông góc với bề mặt đĩa nên các đầu đọc được thiết kế nhỏ gọn và phát  
triển theo các ứng dụng công nghệ mới. Đầu từ trong đĩa cứng có công dụng đọc  
dữ liệu dưới dạng từ hoá trên bề mặt đĩa từ hoặc từ hoá lên các mặt đĩa khi ghi  
dữ liệu. Số đầu từ luôn bằng số mặt hoạt động được của các đĩa cứng, nghĩa  
chúng nhỏ hơn hoặc bằng hai lần số đĩa (nhỏ hơn trong trường hợp dụ hai đĩa  
nhưng chỉ sử dụng 3 mặt).  
Nguyên lý làm việc của ổ đĩa cứng  
18  
Đàm Phương KHMT1K2 HaUI 2011  
Trên mỗi mặt đĩa từ của ổ cứng thì đều một đầu từ riêng biệt, những  
đầu từ này có vai trò đọc/ghi dữ liệu lên bề mặt đĩa từ.  
Thanh mang đầu từ thiết bị đầu từ gắn vào nó. Thanh mang đầu từ  
nhiệm vdi chuyển theo phương song song với các đĩa từ ở một khoảng cách  
nhất định, dịch chuyển định vị chính xác đầu từ tại các vị trí từ mép đĩa đến  
vùng phía trong của đĩa (phía trục quay). Các thanh mang đầu từ di chuyển đầu  
từ được di chuyển đồng thời với nhau do chúng được gắn chung trên một trục  
quay(đồng trục), nghĩa rằng khi việc đọc/ghi dữ liệu trên bề mặt (trên và dưới  
nếu loại hai mặt) ở một vị trí nào thì chúng cũng hoạt động cùng vị trí tương  
ứng ở các bề mặt đĩa tcòn lại.  
Hình 15: Thanh mang đầu từ  
tơ điều khiển thanh mang đầu từ đóng một vai trò rất quan trọng  
trong việc đọc ghi của đầu từ. Tốc độ của motor này phải đồng bộ với tốc độ của  
chính (mô quay đĩa từ) nếu không sẽ không thể đọc chính xác được dữ  
liệu. Cấu trúc mô này khá đơn giản, nó không như một thông thường  
chỉ đơn thuần một bộ phận chuyển động giới hạn trong một góc quay  
nhất định. này chỉ một bộ khung có quấn cuộn cảm phát sinh lực từ để  
chuyển động một nam châm có lực hút rất mạnh được gắn vào khung điều  
khiển của đầu đọc. Ở trạng thái binh thường không hoạt động, này sẽ tự  
động đưa đầu đọc vào khoang trống, một khoảng không trống có khung bảo vệ  
bên ngoài các đĩa từ, để tránh rủi ro tối đa cho các đầu từ cực nhỏ được gắn trên  
thanh mang đầu từ. Bên trong ổ cứng một môi trường chân không hoàn toàn  
Nguyên lý làm việc của ổ đĩa cứng  
19  
Đàm Phương KHMT1K2 HaUI 2011  
chống ẩm. Giữa đầu từ mặt đĩa từ một khoảng không gian cực nhỏ có  
thể nói là siêu nhỏ. “Ở giữa mặt đĩa từ đầu từ một khoảng không gian siêu  
nhỏ trong môi trường chân không bên trong ổ cứng” chứ không phải “giữa ổ  
cứng đầu đọc một lớp đệm không khí hoặc lớp đệm từ trường” như một số  
bài báo và sách đã đề cập đến. Tốc độ quay đĩa từ rất cao khi quay sẽ tạo  
ra gió nếu như ta mở nắp đậy ổ cứng ra, nếu có không khí bên trong ổ cứng thì  
khi đĩa từ quay với tốc độ cao như thế sẽ tạo gió làm rung và có thể thổi bay  
luôn cả những đầu đọc đồng thời trong không khí có rất nhiều bụi bẩn trong khi  
đó mặt đĩa từ phải luôn luôn sạch bóng. Do đó bên trong ổ cứng phải là môi  
trường chân không. Ổ cứng một thiết bị lưu trữ dữ liệu bằng từ tính, đầu từ  
đọc và ghi bằng từ tính và mặt đĩa từ cũng độ nhạy từ rất cao như thế thì  
không thể nào ở giữa đầu đọc đĩa từ lại có thêm một lớp đệm từ trường.  
Hình 16: Mô tơ điều khiển thanh mang đầu từ  
2.2.3. Bảng mạch điều khiển  
Bảng mạch điều khiển gồm Mạch điều khiển Mạch xử dữ  
liệu.  
Nguyên lý làm việc của ổ đĩa cứng  
20  
 
Đàm Phương KHMT1K2 HaUI 2011  
Mạch xử dữ liệu dùng để xử những dữ liệu đọc/ghi của ổ đĩa cứng.  
Mạch điều khiển nhiệm vụ điều khiển tơ trục quay đĩa từ, điều khiển sự  
di chuyển của thanh mang đầu từ để đảm bảo đến đúng vị trí trên bề mặt đĩa. Ổ  
đĩa cứng được điều khiển bởi các mạch điện tử tương đối phức tạp. Bảng mạch  
điều khiển được gắn dưới bộ khung khí và chứa hoàn toàn các mạch cần thiết  
để truyền tải các tín hiệu điều khiển dữ liệu với bộ giao diện vật lý riêng, điều  
khiển đầu từ, thực hiện đọc/ghi theo yêu cầu để quay các đĩa từ. Mỗi một  
chức năng kể trên phải được thực hiện hoàn hảo với độ chính xác cao.  
Hình 17: Toàn bộ bảng mạch điều khiển của ổ đĩa cứng  
Bảng mạch điều khiển bao gồm chip điều khiển toàn mạch, chip điều  
khiển vào/ra, bộ nhớ đệm cho ổ cứng (HDD cache), một ổ cắm nguồn 5+ 5- 12-  
12+, và chân cắm chuẩn IDE hoặc SATA.  
Hình 18: một số thành phần trên bảng mạch điều khiển của ổ cứng  
Nguyên lý làm việc của ổ đĩa cứng  
21  
Đàm Phương KHMT1K2 HaUI 2011  
Bộ nhớ đệm nơi tạm lưu dữ liệu trong quá trình đọc/ghi dữ liệu. Dữ  
liệu trên bộ nhớ đệm sẽ mất đi khi ổ đĩa cứng ngừng được cấp điện. Đối với các  
thế hệ ổ cứng trước đây bộ nhớ đệm rất thấp chỉ từ 512kb trở xuống còn với  
các thế hệ ổ cứng hiện đại sau này thì số lượng cache rất cao từ 1Mb trở lên.  
Trong bo mạch của ổ cứng thì motor , chip controller và bộ nhớ đệm đóng vai  
trò rất quan trọng. Độ lớn của bộ nhớ đệm ảnh hưởng đáng kể tới hiệu suất  
hoạt động của ổ đĩa cứng bởi việc đọc/ghi không xảy ra tức thời (do phụ thuộc  
vào sự di chuyển của đầu đọc/ghi, dữ liệu được truyền tới hoặc đi) sẽ được đặt  
tạm trong bộ nhớ đệm. Đơn vị thường bính bằng kB hoặc MB. Bộ nhớ đệm càng  
cao thì tốc độ truy xuất dữ liệu trên ổ cứng sẽ nhanh hơn rất nhiều vấn đề sai  
sót dữ liệu cũng rất thấp. Tương tự , tốc độ quay của motor và khả năng điều  
khiển của bcontroller cũng không kém phần quan trọng, nếu tốc độ của ổ cứng  
(rpm - revolution per minute - số vòng trên phút) càng cao thì tốc độ truy xuất  
dữ liệu scàng nhanh.  
Trong thời điểm năm 2007, dung lượng bộ nhớ đệm thường là 2 hoặc 8  
MB cho các loại ổ đĩa cứng dung lượng đến khoảng 160 GB, với các ổ đĩa cứng  
dụng lượng lớn hơn chúng thường sử dụng bộ nhớ đệm đến 16 MB hoặc cao  
hơn. Bộ nhớ đệm càng lớn thì càng tốt, nhưng hiệu năng chung của ổ đĩa cứng  
sẽ chững lại ở một giá trị bộ nhớ đệm nhất định từ đó bộ nhớ đệm thể  
tăng lên nhưng hiệu năng không tăng đáng kể. Hệ điều hành cũng thể lấy một  
phần bộ nhớ của hệ thống (RAM) để tạo ra một bộ nhớ đệm lưu trữ dữ liệu được  
lấy từ ổ đĩa cứng nhằm tối ưu việc xử đối với các dữ liệu thường xuyên phải  
truy cập, đây chỉ một cách dùng riêng của hệ điều hành mà chúng không ảnh  
hưởng đến cách hoạt động hoặc hiệu suất vốn của mỗi loại ổ đĩa cứng. rất  
nhiều phần mềm cho phép tinh chỉnh các thông số này của hệ điều hành tuỳ  
thuộc vào sự dư thừa RAM trên hệ thống.  
Hiện nay tuy các nhà sản xuất đang ngày càng một nâng cao tốc độ của ổ  
cứng nhưng chắc chắn tốc độ truy xuất dữ liệu của ổ cứng sẽ không bao giờ  
thể nhanh bằng RAM (Random Access Memory - bộ nhớ truy xuất ngẫu  
nhiên). Để giảm bớt phần nào khoảng cách đó, các nhà sản xuất phần cứng và  
phần mềm đã tạo ra bộ đệm ổ cứng (disk cache). Bộ đệm của ổ cứng sử dụng  
một phần của RAM để lưu trữ những thông tin thường xuyên được các ứng dụng  
Nguyên lý làm việc của ổ đĩa cứng  
22  
Đàm Phương KHMT1K2 HaUI 2011  
truy nhập. Chính việc lưu trữ những thông tin này trên RAM, bộ đệm đã giúp  
tốc độ truy xuất dữ liệu nhanh hơn và giúp kéo dài tuổi thọ của ổ cứng. Nguyên  
tắc hoạt động của bộ đệm khá đơn giản: những dữ liệu thường xuyên được truy  
nhập sẽ được lưu trữ trong RAM khi đó nếu ứng dụng yêu cầu truy cập  
những dữ liệu này thì những dữ liệu này sẽ được lấy ra trực tiếp từ RAM chứ  
không cần ổ cứng phải làm những công vịêc như: quay đĩa, xác định vị trí đầu  
đọc, tìm kiếm…  
Có 4 kiểu bộ đệm ổ cứng chính:  
- Bộ đệm “mềm” (Software disk caches): sử dụng một phần bộ nhớ chính của  
máy (PC RAM – main memory) để truy xuất lưu trữ tạm thời một phần dữ  
liệu của ổ cứng. Loại bộ đệm này do một chương trình tao và quản lý cho nên  
không cần đế những phần cứng hỗ trợ đặc biệt. VCACHE chính là một dụ  
thực tế về bộ đệm mềm.  
- Bộ đệm “cứng” (on-board disk caches): sử dụng bộ nhớ bộ điều khiển cache  
được thiết kế ngay trên board mạch của ổ cứng. Mặc dù nó không hề sử dụng  
bất cứ một phần RAM nào của bộ nhớ chính (computer RAM) để làm công việc  
lưu trữ tạm thời nhưng chúng có dung lượng rất thấp (128KB->2MB cá biệt có  
thể lên đến 4MB) và cực kỳ đắt tiền.  
- Bộ đệm “riêng” (disk caching controllers): tương tự như bộ đệm cứng, bộ đệm  
riêng sử dụng bộ nhớ riêng (có cấu trúc khác RAM) nhưng bộ nhớ bộ điều  
khiển bộ đệm này sử dụng bộ nhớ và chíp điều khiển được gắn riêng rẽ  
trên một card điều khiển chứ không phải là trên board mạch của ổ cứng lẽ dĩ  
nhiên giá thành của chúng cực đắt. Tuy nhiên, bộ đệm riêng lại hoạt động tốt  
và nhanh hơn rất nhiều so với bộ đệm cứng vì nó vượt qua được một số giới hạn  
của những phần của ổ cứng bộ đệm cứng luôn bị ảnh hưởng.  
- Buffers : ở đây ta không dịch hẳn từ buffer mà để nguyên như thế giữa  
buffers và cache có những điểm rất giống nhau. Có rất nhiều tài liệu biên dịch  
hoặc nguyên bản hoàn toàn không phân biệt giữa 2 khái niệm “cache” và  
“buffers” mà lại để nguyên là “bộ đệmnhư vậy là không chính xác! Vậy giữa  
cache và buffers có gì khác nhau và giống nhau? Có một điểm duy nhất giống  
nhau giữa cache và buffers chính là “chúng đều bộ nhớ đệm có tác dụng lưu  
Nguyên lý làm việc của ổ đĩa cứng  
23  
Đàm Phương KHMT1K2 HaUI 2011  
trữ tạm thời một số dữ liệu trên ổ cứng nhằm tăng tốc tốc độ truy xuất dữ liệu và  
tăng tuổi thcho ổ cứng” điểm khác nhau giữa chúng là:  
+ Cache có tốc độ cao hơn nhiều so với buffers.  
+ Cache phải cần đến bộ điều khiển cache - nếu “cứng” thì cần phài có  
chíp điều khiển, còn “mềm” thì phải cần phần mềm điều khiển – trong khi đó  
buffers chỉ một con chíp nhớ đơn giản không cần bộ điều khiển riêng.  
+ Buffers gặp rất nhiều giới hạn trong các quá trình giao tiếp chuyển  
đổi dữ liệu bởi khả năng quản dữ liệu của rất kém. Khi lưu trữ dữ liệu  
tạm thời, buffer lưu trữ một lúc cả một track vì thế nếu muốn tìm một sector nào  
trên track này thì hệ điều hành lại phải tiếp tục tìm kiếm trên track mà buffer  
cung cấp - chậm hơn hẳn so với cache.  
Những điều cần chú ý đến Cache : “ổ cứng có cache lớn không có nghĩa  
sẽ truy xuất dữ liệu nhanh hơn ổ cứng có cache nhỏ (hai cái cùng loại có cùng  
tốc độ và dung lượng)”. Điều này thì cũng không có gì là bất thường lắm, cache  
bộ nhớ do đó tốc độ truy xuất của bộ nhớ làm cache càng nhanh thì càng tốt ,  
tuỳ thuộc vào mức độ thôn minh và khả năng quản của “chíp điều khiển”  
(cache controllers chip) và cuối cùng là tổ chức của bộ nhớ làm cache (cho phép  
đọc/ghi dữ liệu tuỳ ý hoặc chỉ thể đọc hoặc ghi từ đầu đến cuối). Tuy nhiên  
tác dụng của bộ cache sẽ mất hoặc giảm đi rất nhiều nếu như ổ cứng đã được  
defragment (phần này chúng tôi sẽ nói kỹ hơn ở phần Cấu trúc File System).  
VCACHE: Windows có một driver ảo gọi là VCACHE có nhiệm vụ quản  
trị bộ nhớ đệm cho ổ cứng. VCACHE chính là một sự thay thế cho “bộ đệm  
mềm” của DOS và các version Windows trước đó (thường được gọi là  
SmartDrive). VCACHE có khả năng thay đổi rất nhanh dung lượng bộ nhớ mà  
sử dụng, điều mà các trình quản bộ đệm trong DOS không thể làm được.  
Khi đĩa cứng hoạt động liên tục (chép file hoặc đọc file lớn) trong khi đó việc  
truy cập bộ nhớ lại thấp thì nó sẽ tự động điều chỉnh kích thước bộ đệm (tăng  
lên) cho phù hợp để RAM có thể chia sẻ bớt một phần công việc của đĩa cứng.  
Nguợc lại, khi ổ cứng ít hoạt động (ít truy xuất dữ liệu) nhưng RAM lại liên tục  
lệnh truy xuất (khi chạy các ứng dụng tính toán cao cấp) thì nó sẽ tự động  
điều chỉnh kích thước bộ đệm ( giảm xuống) để được dung lượng RAM tối đa  
cho các ứng dụng tính toán. VCACHE hoàn toàn có khả năng tạo ra những file  
Nguyên lý làm việc của ổ đĩa cứng  
24  
Đàm Phương KHMT1K2 HaUI 2011  
cache (còn gọi là swap file) ngay trên ổ cứng mạng (98,Me). Nó sử dụng quá  
trình “đọc trước – ghi từ cache xuống” (read-ahead and write-behind caching).  
VCACHE là một dụ điển hình của “bộ đệm mềm” (software disk cache):  
- Đọc trước (read-ahead) : là một phương pháp xem xét thử phần dữ liệu nào sẽ  
được ứng dụng yêu cầu truy xuất kế tiếp rồi đọc nó vào bộ nhớ, nó luôn luôn  
được kích hoạt khi máy vi tính đang trong trạng thái nghỉ ngơi (Standby) hoặc ít  
hoạt động (Idle). Kết quả của phương pháp này là giảm được nhiều chuyển động  
của đầu đọc đĩa cứng hoạt động êm hơn (không đọc nhiều nên không gây  
tiếng ồn).  
- Ghi từ cache xuống (write-behind caching): cũng cho kết quả tương tự nhưng  
nó còn bao gồm luôn công việc giữ phần dữ liệu trong cache để chúng đuợc ghi  
xuống đĩa cứng hoàn toàn cho đến khi máy vi tính nghỉ ngơi (shutdown). Một  
vấn đề với phương pháp này là “nếu như máy tính mất điện đột ngột thì những  
phần dữ liệu chưa được ghi từ cache xuống ổ cứng sẽ mất trắng không tìm lại  
được vì cache là một dạng bộ nhớ cần nguồn nuôi”.  
Jump cấp nguồn: cung cấp điện cho ổ đĩa cứng. Ổ đĩa cứng sử dụng một  
trong 2 loại jump cấp nguồn với 2 chuẩn cho giao diện ATA và giao diện  
SATA.  
Hình 19: Jump cấp nguồn cho ổ cứng SATA  
Nguyên lý làm việc của ổ đĩa cứng  
25  
Đàm Phương KHMT1K2 HaUI 2011  
Hình 20: Jump cấp nguồn cho ổ cứng ATA  
Hình 21: Loại jack nguồn cấp điện cho ổ cứng ATA  
Nguyên lý làm việc của ổ đĩa cứng  
26  
Đàm Phương KHMT1K2 HaUI 2011  
Hình 22: Loại jack nguồn cấp điện cho ổ cứng SATA  
Jumper chuyển mạch: thiết đặt chế độ làm việc của ổ đĩa cứng: lựa chọn  
chế độ làm việc của ổ đĩa cứng (SATA 150 hoặc SATA 300) hay thứ tự trên các  
kênh trên giao tiếp IDE (master hay slave hoặc tự lựa chọn), lựa chọn các thông  
số làm việc khác...  
Hình 23: Mô tả jumper thiết lập của ổ cứng  
2.2.4. Bộ khung khí (Vỏ đĩa cứng)  
Nguyên lý làm việc của ổ đĩa cứng  
27  
 
Đàm Phương KHMT1K2 HaUI 2011  
Bộ khung khí rất quan trọng đối với hoạt động chính xác của ổ đĩa  
cứng, ảnh hưởng đến sự hợp nhất về cấu trúc, về nhiệt về điện của ổ đĩa.  
Khung cần phải cứng tạo nên một cái nền vững chắc để lắp ráp các bộ phận  
khác. Các ổ đĩa cứng thường dùng khung nhôm đúc, nhưng các ổ cứng loại nhỏ  
của máy tính xách tay thường dùng vo plastic. Vật liệu vỏ cụ thể phụ thuộc vào  
yếu tố hình dạng (form factor) tức là kích thước của ổ cứng.  
Vỏ đĩa cứng gồm các phần: phần đế chứa các linh kiện gắn trên nó, phần  
nắp đậy lại để bảo vệ các linh kiện bên trong. Vỏ đĩa cứng chức năng chính  
nhằm định vị các linh kiện đảm bảo độ kín khít để không cho phép bụi được  
lọt vào bên trong của ổ đĩa cứng. Ngoài ra, vỏ đĩa cứng còn có tác dụng chịu  
đựng sự va chạm (ở mức độ thấp) để bảo vệ ổ đĩa cứng. Do đầu từ chuyển động  
rất sát mặt đĩa nên nếu bụi lọt vào trong ổ đĩa cứng cũng thể làm xước bề  
mặt, mất lớp từ hư hỏng từng phần (xuất hiện các khối hư hỏng (bad  
block))... Thành phần bên trong của ổ đĩa cứng là không khí có độ sạch cao, để  
đảm bảo áp suất cân bằng giữa môi trường bên trong và bên ngoài, trên vỏ bảo  
vệ có các hệ lỗ thoáng đảm bảo cản bụi và cân bằng áp suất.  
Hình 24: Phần đế của ổ đĩa cứng  
Nguyên lý làm việc của ổ đĩa cứng  
28  
Đàm Phương KHMT1K2 HaUI 2011  
Hình 25: Phần nắp của ổ đĩa cứng  
2.3. Các chuẩn giao tiếp cơ chế đọc ghi dữ liệu của ổ cứng  
2.3.1. Các chuẩn giao tiếp của ổ cứng  
rất nhiều chuẩn giao tiếp đã ra đời và phát triển để xác định nguyên tắc  
làm việc giữa ổ cứng và CPU. Sự đa dạng này một phần xuất phát từ yêu cầu tốc  
độ đọc/ghi dữ liệu khác nhau giữa các hệ thống máy tính, phần còn lại các ổ  
giao tiếp nhanh có giá thành cao hơn nhiều so với các chuẩn thông dụng. Những  
chuẩn dưới đây đại diện cho những chuẩn thông dụng nhất thường được sử dụng  
giữa bộ điều khiển ổ cứng:  
- ST-506/412 : tiêu chuẩn giao tiếp được phát triển bởi hãng Seagate và được sử  
dụng vào thời những máy IBM khai(1980). Chuẩn này ngày nay đã hoàn  
toàn được thay thế bởi các chuẩn nhanh hơn như IDE, EIDE và SCSI.  
Nguyên lý làm việc của ổ đĩa cứng  
29  
   
Đàm Phương KHMT1K2 HaUI 2011  
Hình 26: Khe cắm chuẩn giao tiếp ST-512 của ổ cứng  
- Enhanced Small Device Interface (ESDI): giao diện bộ điều khiển ổ cứng phải  
cần một thiết bị trợ giúp riêng biệt, một chuẩn thay thế cho ST-506/412 tuy  
nhiên nó cũng đã lỗi thời đã bị IDE, EIDE và SCSI thay thế. Chuẩn ST-  
506/412 và ESDI là rất khó chịu với ổ cứng phải cần bộ điều khiển riêng biệt.  
Những chuẩn này không chỉ đơn thuần khác biệt ở chdung lượng mà nó có thể  
truy xuất được mà còn là tốc độ của chúng. Ví dụ ST-506/412 có thể truyền đi  
khoảng 5-7.5 megabit/giây trong khi đó EIDE có thể truyền đi đến 16.6  
megabit/giây.  
Nguyên lý làm việc của ổ đĩa cứng  
30  

Tải về để xem bản đầy đủ

doc 110 trang yennguyen 20/07/2025 810
Bạn đang xem 30 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Tìm hiểu về nguyên lý hoạt động của ổ đĩa cứng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docluan_van_tim_hieu_ve_nguyen_ly_hoat_dong_cua_o_dia_cung.doc